Monday, January 29, 2018

Cách Trung Quốc dùng các trường học để kéo Hà Nội về cùng phe

How China Used Schools to Win Over Hanoi by OLGA DROR, The New York Times Jan. 26, 2018
PG Thu Phap Gia dịch Jan. 29, 2018


Cách Trung Quốc dùng các trường học để kéo Hà Nội về cùng phe

How China Used Schools to Win Over Hanoi

by OLGA DROR


Kính bác Nguyễn Xuân Nghĩa,

Cháu vừa dịch xong bài.
Đúng là một Sử liệu quý, nhận định quý từ một học giả nhà nghề. Những dữ liệu mà vào thời chiến tranh 1954-1975 người quốc gia miền Nam không biết. Cả người hôm nay nếu không đọc bài cũng không biết.
Cái Biết mà cháu nhấn mạnh đó là: đây là một trong những bằng chứng quý báu cho thấy hơn 5 chục năm trước, cộng sản Bắc Việt đã phản quốc, bám đít ngoại bang (cộng sản Tàu và cộng sản Nga) xin viện trợ, khí tài về đánh anh em một nhà. Câu mà ông Vũ Thư Hiên viết trong Hồi Ký "Đêm Giữa Ban Ngày": TA ĐÁNH ĐÂY LÀ ĐÁNH CHO LIÊN XÔ ĐÁNH CHO TRUNG QUỐC là hoàn toàn có chứng cứ!
Cám ơn bác đã mách cho biết có bài này!

PG Thu Phap Gia dịch
https://www.facebook.com/xuan.nguyen.520562/posts/10204486286875205



Vào tháng 12 năm 1966, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hay còn gọi Bắc Việt, với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ký một thỏa thuận thành lập trường học tại Trung Quốc cho trẻ em Bắc Việt, theo đó Trung Quốc đài thọ hết cả cơ sở vật chất, ngân quỹ và trang thiết bị. Mỹ leo thang các chiến dịch ném bom Bắc Việt, và Hà Nội muốn chuyển học sinh của họ đến một nơi an toàn.

Điều thực sự đáng nói trong nỗ lực giáo dục xuyên biên giới này là nó khởi sự ở đoạn giữa của cuộc Cách mạng Văn hoá Trung Quốc, vốn bắt đầu vào tháng 5 năm 1966 và đã phá huỷ hệ thống giáo dục Trung Quốc (cũng như đặt nền kinh tế Trung Quốc lâm vào tình trạng hỗn loạn). Nhưng Trung Quốc vẫn cố kiếm một không gian riêng cho Bắc Việt như đã dự tính vì làm thế, họ có ý nhắm tới mục tiêu địa chính trị cao hơn: đó là cạnh tranh với Liên Xô để nắm vai trò lãnh đạo phong trào cộng sản thế giới.


Chương trình này của Trung Quốc, có tên gọi là Project 92, bao gồm thiết bị giảng dạy và xây cất các trường học, cũng như ngân khoản cho chi phí hàng ngày ("92" là ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Việt Nam tuyên bố độc lập với Pháp).
Một trường có tên là “2 tháng 9”, được lập riêng cho những trẻ em đã từ miền Nam Việt Nam tập kết ra Bắc (Việt).
Một trường khác mang tên Nguyễn Văn Trỗi là dành cho các học viên quân sự. Trỗi là một thanh niên Sài Gòn, đã ám sát bất thành Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara vào tháng 5 năm 1963 trong chuyến ông sang thăm Nam Việt Nam và Trỗi đã bị xử tử bởi một đội hành quyết.
Vì quân đội Trung Quốc ít bị ảnh hưởng trong Cách mạng Văn hoá hơn là hệ thống giáo dục dân sự nên quân đội đã được giao việc xây cất các trường học.

Các trường này không chỉ là cơ sở giáo dục căn bản đơn thuần mà vai trò chính của nó là tạo ra, "một trường học xã hội chủ nghĩa tiên tiến" ở một chốn an toàn để đào tạo các thế hệ người Việt tiếp nối. Học sinh phải thấm nhuần đạo đức cách mạng và tinh thần xã hội chủ nghĩa. Họ phải trở thành các chiến binh sẵn sàng đầy nhiệt huyết khi đến tuổi được gọi sung quân. Các giáo viên phải dạy học sinh 5 điều bác Hồ, và các em phải ghi sâu trong lòng những đường đi nước bước mà Bắc Việt sẽ thực thi, phải làm sao cho các em kiên định một lập trường rằng chính vì kẻ thù Mỹ mà đất nước mới bị chia đôi, gia đình ly tán và quê hương bị tàn phá.

Tóm lại, mục đích tập trung vào việc làm sao để các em hăm hở tòng quân chống Mỹ khi nhà nước kêu gọi.

Vào tháng 12 năm 1967, 3 trường này liên kết với một Học Khu ở Nam Việt Nam và một hệ thống mới đã thực sự hình thành.
Hầu hết các công trình xây cất xong vào tháng 8 năm 1968, và cả hai bên đã họp bàn về những hợp tác sắp tới, nhất là là yêu cầu tăng giờ dạy chính trị cho học sinh, kết hợp lý thuyết với thực hành, phối hợp trao đổi kinh nghiệm thu được trong cả cuộc Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc lẫn cuộc chống Mỹ ở Việt Nam. Người ta cũng đã thống nhất là khi các học sinh Việt về nước, họ được phép mang theo tất cả các thiết bị giảng dạy cũng như vũ khí (trừ những vũ khí đã được đề cập trong các thỏa thuận trước đó).

Hệ thống này gồm 7 trường học với hơn 2.000 học sinh, cán bộ và giáo viên. Nhiều học sinh là con của cán bộ, đảng viên cộng sản bị giết trong các cuộc chiến với Pháp và Mỹ. Các học sinh được mang đến từ 3 miền Việt Nam. Người ta bảo họ đại diện cho khoảng 30 sắc tộc dù không nêu cụ thể từng sắc tộc nào. Thời điểm các em đến cũng không cùng nhau, trình độ học vấn không đồng đều và ở vào nhiều độ tuổi khác nhau.

Hơn nữa, chương trình bộc lộ nhiều khiếm khuyết, thiếu thốn. Các trường học tập trung vào một khoảnh đất không lấy gì làm rộng (chưa đầy một cây số vuông) thiếu không gian cho phòng, lớp học, cũng như chỗ ở nội trú chật chội, thiếu các hoạt động bên ngoài trường lớp, lẫn mặt bằng cho sản xuất hoặc cho các sinh hoạt xã hội.
Thêm vào đó, dù có cùng một xuất xứ màu cờ sắc áo, nhưng các lứa học sinh mang trong mình những sùng tín chính trị cơm không lành canh không ngọt với nhau.
Một nhóm này phe này thì theo đường lối của Hà Nội "dưới sự chăm sóc của Bác và Đảng, và đó là lý do vì sao họ có thù Mỹ và tay sai" – một nói cách trỏ những người chống Cộng ở Nam Việt Nam - "đó là những kẻ bán nước". Các học sinh trong nhóm này "gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tin tưởng tuyệt đối ở Bác Hồ, và Đảng Lao động Việt Nam"
Một phe khác gồm những học sinh, như trong một báo cáo đã viết, đã từng trải qua, từng bị "nhiễm độc đồi trụy của Mỹ", kỷ cương không nghiêm, bị thiếu khuyết bản sắc dân tộc và lòng yêu nước.

Ngoài những khó khăn đó, nơi đây còn thiếu giáo viên, mà những người đang có mặt ở đó, theo đánh giá của Bộ Giáo dục Bắc Việt, thì có trình độ văn hoá quá thấp. Nhiều giáo viên muốn bỏ dạy về nhà, không có đạo đức cách mạng và đã gây ra những lỗi lầm nghiêm trọng, chẳng hạn như họ quan hệ trai gái bất chính, vi phạm các nguyên tắc của giáo dục xã hội chủ nghĩa, đánh đập hoặc kỷ luật học sinh thái quá.

Cũng theo một phân tích, ở các cấp điều hành cũng sinh lắm chuyện. Đa số bọn họ "theo các lề lối cổ hủ và lạc hậu", đã bất chấp quan điểm cách mạng về tình bạn, tình yêu với công tác. Theo Bộ Giáo dục, thái độ tiêu cực của họ đã lấn át hết những gì đã tuyên thệ khi vào đảng hay đoàn trước kia. Những khó khăn về vật chất càng làm tiêu cực trầm trọng thêm khi gặp phải những nan giải về ý thức hệ. Các khu nhà ở quá tải và không đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh chung. Trường lớp thì không được trang bị đầy đủ những gì cần thiết. Lắm lúc các trẻ ở nhiều độ tuổi khác nhau đã phải học chung một lớp với nhau. Tài liệu, phương tiện giảng dạy luôn bị cung cấp chậm trễ.

Trung Quốc có ba cân nhắc chính yếu khi viện trợ mở rộng hệ thống giáo dục cho Bắc Việt.

Thứ nhất là tình liên đới với một kẻ được họ bảo trợ. Tình cảm đó phát sinh từ sự liên minh chặt chẽ giữa Cộng sản Trung Quốc với Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh chống Pháp, khi Trung Quốc cung cấp khí tài chiến tranh cho Bắc Việt và đã được Bắc Việt đáp lại với lòng biết ơn và cùng đua theo. Cộng sản Trung Quốc hài lòng chứng kiến những thành tựu của Cộng sản Việt Nam như là một sự mở rộng sự nghiệp cách mạng của họ.

Thứ hai là việc cạnh tranh với Liên Xô để giữ vai trò lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế và gây ảnh hưởng tới những nước được gọi là "thế giới thứ ba", trong đó có Việt Nam. Cuộc chạy đua tranh giành ảnh hưởng giữa Trung-Xô đã tăng cao vào cuối những năm 1950 và còn tiếp tục trong những năm 1960. Nay, cho không đồng minh Việt Nam một nơi trú ẩn an toàn để mở trường học ngay bên kia biên giới là điều Liên Xô không thể làm, và yếu tố này đã tụ hội về cho Trung quốc một ưu thế bảo trợ Việt Nam cả cái nghĩa cụ thể thiết thực lẫn cái nghĩa trói buộc trong tinh thần đồng minh.


Cuối cùng, chương trình đã tạo cơ hội cho Trung quốc khả dĩ hỗ trợ can thiệp vào một cuộc chiến trong đó Hoa Kỳ buộc phải đưa quân đến một nơi dù ở ngoài biên giới Trung Quốc đi nữa – hiểu theo nghĩa là Mỹ ít nhiều cũng là một mối đe doạ đối với Trung Quốc.

Dù gặp nhiều khó khăn, hệ thống này đã duy trì cho đến giữa năm 1975, khi chương trình bị chấm dứt và tất cả học sinh, giáo viên và cán bộ điều hành quay về Việt Nam. Năm 1975 là năm Bắc Việt đang trên đường tiến đánh miền Nam, và nhu cầu an toàn cho các cơ sở giáo dục như thế dường như không còn cần thiết nữa.
Mà mối quan hệ Trung-Việt cũng đang ngày một tồi tệ. Chiến dịch cuối cùng của Hà Nội đánh Sài Gòn được thúc đẩy nhờ viện trợ của Liên Xô, và việc củng cố một chế độ cộng sản trên khắp Việt Nam giờ đây đã biến đồng minh cũ của Trung Quốc nay trở thành một mối đe dọa cho họ.
Một điều trớ trêu là dù vào năm 1978, Việt Nam với Trung Quốc đã nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, thế nhưng có một số bộ đội Việt Nam vẫn cứ lưu luyến không quên một thời đã từng được đào tạo trên giải đất bên kia biên giới.

© copyright by PG Thu Phap Gia Jan. 29, 2018



Olga Dror là phó giáo sư của Sử học tại Đại học Texas A & M và là tác giả của cuốn sách “Making Two Vietnams: War and Youth Identity, 1965-75.” Tạm dịch "Chia Đôi Việt Nam: Nhận Dạng Chiến Tranh và Tuổi Trẻ, 1965-75".

Bài báo này dựa trên tài liệu sẽ xuất hiện trong một Tiểu luận số ra mùa Xuân năm 2018 của Journal of Cold War Studies (Tạp chí Nghiên cứu Chiến tranh Lạnh)

Theo dõi YouTube của Mr. Nguyễn Xuân Nghĩa về cùng chủ đề này:



Nguyên Văn:

How China Used Schools to Win Over Hanoi

by OLGA DROR
The New York Times - Jan. 26, 2018

In December 1966, the Democratic Republic of Vietnam, or North Vietnam, and the People’s Republic of China signed an agreement to establish schools for North Vietnamese children in China, with China providing the facilities, funds and equipment. America’s bombing campaign over North Vietnam was in high gear, and Hanoi wanted to move its students to a safe place.

What is truly remarkable about this cross-border educational effort was that it began in the midst of the Chinese Cultural Revolution, which started in May 1966 and destroyed the Chinese educational system (and left the Chinese economy in shambles). But the Chinese were willing to carve out space for the North Vietnamese because doing so served a higher, geopolitical purpose: competing with the Soviet Union for leadership of the global communist movement.

The Chinese program, known as Project 92, covered school construction and teaching equipment, as well as funds for daily expenses (the “92” refers to Sept. 2, 1945, the day Vietnam declared independence from France). One facility, the School of Sept. 2, was established specifically for children who had been relocated from South Vietnam. Another school, for military cadets, bore the name of Nguyen Van Troi, a young Saigonese who in May 1963 attempted to assassinate the American defense secretary, Robert McNamara, during his visit to South Vietnam, and who was executed by firing squad. Because the Chinese military was less affected by the Cultural Revolution than its civilian educational system, the military led the construction efforts.

The schools were more than just basic educational facilities; their goal was to create, in a safe location, “an advanced socialist school” to train the next generation of Vietnamese. They were to instill revolutionary morality and the socialist spirit. And pupils were to become willing and enthusiastic fighters when their time came to join the army. Teachers had to teach the Five Precepts of Uncle Ho, and they had to inculcate the North Vietnamese agenda, to make sure the children understood that it was because of the American enemy that their country was divided into two, that their families were broken and that their homeland was being destroyed. In short, the objective was for the children to be eager for the government to call them up to fight the Americans.

In December 1967, three schools were united into the Vietnamese Southern School District, and the new system was effectively inaugurated. Most of the construction was finished by August 1968, and both sides met to discuss future cooperation, especially the need to strengthen the political education of the pupils, combining theory and practice and incorporating an exchange of experiences gained during the Cultural Revolution in China and the anti-American war in Vietnam. It was also decided that when the Vietnamese returned, they could take with them all the teaching equipment as well as weapons (no weapons were mentioned in the previous agreements).


The system included seven schools with more than 2,000 pupils, cadres and teachers. Many of the pupils were children of cadres and party members killed during the wars against the French and the Americans. Pupils were brought from different areas of Vietnam, from the South as well as from the North. They reportedly represented around 30 nationalities, although the nationalities were not specified. They arrived at different times, they had different levels of education and they were different ages.

The program had its shortcomings, though. The schools were concentrated on a limited piece of land (less than a square kilometer) that lacked sufficient classroom space, as well as sufficient space for housing, outside activities, production or social activities. Moreover, despite their political pedigrees, the students came with a frustratingly broad range of political convictions. One group followed the Hanoi line. This group was “in the care of the Party and of Uncle and that’s why they had hatred toward the Americans and their lackeys” — in other words, South Vietnamese anti-communists — “who sell the country.” Pupils in this group were “connected to socialism, felt absolute trust in Uncle Ho, and in the Workers Party of Vietnam.” On the other side of the spectrum, there were pupils who had experienced, in one report, the “putrid American influence” and who lacked discipline, a sense of national identity and love for the nation.

In addition to these difficulties, there was a shortage of teachers, and those who were there, according to an assessment by the North Vietnamese Ministry of Education, had very low educational levels. Many teachers wanted to return home. Many of them did not have revolutionary morale and thus made serious mistakes, such as illicit liaisons among male and female cadres and violations of the principles of socialist education, like hitting or harshly disciplining students.

Administrators were a problem, too. Many of them were still “under the old conventions and backward concepts,” according to one analysis, that superseded revolutionary notions of friendship, love and service. Their bad attitudes, according to the Ministry of Education, prevailed over their commitments to the party and its youth organizations. Material problems aggravated ideological difficulties. Living quarters were overcrowded and did not meet hygienic requirements. Classrooms were not sufficiently equipped. Sometimes children of very different ages had to study together. Teaching materials arrived slowly.

China had three main considerations in hosting an extension of the Vietnamese educational system. First was solidarity with a protégé. That feeling arose from the close alliance between the Chinese and Vietnamese communists during the war against France, when the Chinese provided the means for continuing the war and the Vietnamese responded with gratitude and emulation. Chinese communists saw the achievements of the Vietnamese communists as an extension of their own revolutionary agenda.

Second was competition with the Soviet Union for leadership of the international communist movement and for influence in what were then called “third world” countries, which included Vietnam. The Sino-Soviet competition developed in the late 1950s and continued through the 1960s. Giving their Vietnamese allies a safe haven for schools just across the border was something that the Soviet Union was not in a position to provide to the Vietnamese, and this created a venue for nurturing both practical assistance and a spirit of sympathetic patronage.


Finally, the program offered an opportunity to support a war that kept the United States militarily occupied beyond China’s borders — rendering America less of a threat to China itself.

Despite its difficulties, the system persevered until mid-1975, when it was terminated and all students, teachers and administrators returned to Vietnam. By 1975, North Vietnam was on the verge of conquering the south, and the need for educational facilities that were out of harm’s way was lessening. But Sino-Vietnamese relations were souring as well. Hanoi’s final push toward Saigon was fueled by Soviet assistance, and the consolidation of communist rule across Vietnam turned an ally of China into a threat. While it is possible that when Vietnam and China went to war in 1978 there were some Vietnamese soldiers who had once studied on Chinese soil, there are nevertheless many who continue to cherish their study years in China.

Olga Dror is an associate professor of history at Texas A&M University and the author of the forthcoming book “Making Two Vietnams: War and Youth Identity, 1965-75.” This article draws on material that will appear in an essay in the spring 2018 issue of the Journal of Cold War Studies.

Subscribe to the Vietnam '67 newsletter.

Follow The New York Times Opinion section on Facebook and Twitter (@NYTopinion), and sign up for the Opinion Today newsletter.


No comments:

Post a Comment