22/09/2012
Giới thiệu Phong hóa Ngày nay
Nhóm thực hiện số hóa
Bắt đầu từ ngày 22/09/1932, Phong hóa số 14 ra tám trang khổ lớn, trở thành tờ báo trào phúng đầu tiên của nước ta. Mục đích của báo được quảng bá lần đầu trong Phong hóa số 13 là: “Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết: Xã hội, chính trị, kinh tế, nói rõ về hiện tình trong nước…”
Phong hóa và Ngày nay là hai tuần báo xuất hiện ở Hà Nội từ năm 1932 tới năm 1940, dưới chế độ Bảo hộ, thuộc Pháp. Thoạt đầu tuần báo Phong hóa
do ông Phạm Hữu Ninh làm chủ, đã ra 13 số báo không có độc giả, sắp sửa
phải đình bản (Khái Hưng và Nhất Linh có viết và vẽ cho tờ báo này dưới
tên Trần Khánh Giư và Đông Sơn). Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã mua lại
và làm Chủ bút nhưng vẫn giữ trên mặt báo tên ông Phạm Hữu Ninh, Gérant
và ông Nguyễn Xuân Mai, Directeur Politique. Ông cùng một nhóm anh em
bạn hữu gồm có Khái Hưng Trần Khánh Giư, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Tứ Ly
Nguyễn Tường Long, Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, tạo thành một Ban biên
tập hoàn toàn mới.
Bắt đầu từ ngày 22/09/1932, Phong hóa số 14 ra tám trang khổ lớn, trở thành tờ báo trào phúng đầu tiên của nước ta. Mục đích của báo được quảng bá lần đầu trong Phong hóa số 13 là:
“Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết:
Xã hội, chính trị, kinh tế, nói rõ về hiện tình trong nước…”
Đó chính là sự thể hiện tinh thần dân chủ và bình đẳng trong tư tưởng, văn chương, báo chí. Sau này tờ báo thực sự đã nổi bật ở tính thời sự và giọng châm biếm.
Năm 1933, Phong hóa có thêm Thế Lữ Nguyễn Đình Lễ, một nhà thơ, nhà văn mới.
Tới giữa năm 1934, Tự lực văn đoàn được thành lập với sáu thành viên: Nhất Linh, Tứ Ly (Hoàng Đạo), Thạch Lam, Khái Hưng, Tú Mỡ và Thế Lữ. Phong hóa số 87, 1934 viết:

Sau này Tự lực văn đoàn có thêm thành viên thứ bảy là thi sĩ Xuân Diệu.
Các
thành viên Tự lực văn đoàn với phong cách viết khác nhau, nhưng đều xử
dụng một loại văn mới mẻ, giản dị nhẹ nhàng dễ đọc, trong những tác phẩm
có nội dung mới, súc tích, lý thú, hợp khẩu vị dân chúng, đã nhanh
chóng thu hút độc giả. Văn đoàn đã thực sự cải tiến cách viết chữ Quốc
Ngữ, giữa lúc lối văn biền ngẫu sáo rỗng vẫn còn thống lĩnh văn chương
Việt Nam, với quá nhiều từ Hán - Việt, và chứng tỏ rằng chữ viết mới có
đủ khả năng diễn tả tất cả mọi tình huống của cuộc đời. Các thành viên
Tự lực văn đoàn mỗi người đều tự tạo ra một sự nghiệp văn chương lừng
lẫy trên các báo Phong hóa và Ngày nay, họ được ca tụng là những văn hào, thi bá xứng đáng của dân Việt.
Văn hào Nhất Linh, người cầm đầu,
hoàn thành một kho tàng văn học đồ sộ, sáng chói, đồng thời điều khiển
văn đoàn rất thành công. Là một thủ lĩnh văn chương có biệt tài, Nhất
Linh nhận xét, sử dụng tài năng, sở trường của các tác giả rất bén nhạy,
sắc sảo. Ta có thể đọc được ít bài trên Phong hóa và Ngày nay
như: “Nguyễn Thế Lữ, một nhân vật mới trong làng thơ mới” phê bình Thế
Lữ vào năm 1933, khi nhà thơ chưa là thành viên của báo, và nhiều bài
viết của Thế Lữ còn ở trong dạng bản thảo (1). Hay bài công bố giải
khuyến khích về thi ca Tự lực văn đoàn năm 1939: nữ sĩ Anh Thơ, và thi
sĩ Tế Hanh (2).
Nhất Linh là người có “cặp mắt
xanh”, sớm nhìn ra từng sở trường, sở đoản của anh em, nên tạo điều kiện
giúp anh em tiến nhanh, tiến vững trong nghề nghiệp. Cụ thể, Tú Mỡ là
bạn thân của Nhất Linh, nhưng khi đọc bài phóng sự của Tú Mỡ, Nhất Linh
phê bình ngay: “Dở quá, anh nên chuyên về thơ trào phúng, tốt hơn!”(3).
Cho nên Tú Mỡ chỉ tập trung viết thơ trào phúng, phụ trách chuyên mục Dòng nước ngược. Và thơ trào phúng của Tú Mỡ được nhiều thế hệ yêu thích. (Lâu lâu Tú Mỡ cũng có một bài phóng sự vui!)
Có
lần Thế Lữ kể lại (theo trí nhớ): Khi làm việc trong tòa báo, ông phải
lọc các bài gửi đăng, có lần thấy một bài dở đã loại ra. Nhưng khi báo
in, lại thấy bài đó xuất hiện! Hỏi ra, thì chính là Nhất Linh nhặt lại,
với lời bình: “Độc giả thích loại này!” Kiểm lại, đúng thật, bài đó được
nhiều lời khen của người đọc. Riêng với Thế Lữ, việc ông trở thành tác
giả viết truyện trinh thám là do Nhất Linh! Vì Nhất Linh đưa ý kiến:
“Bây giờ là lúc báo cần có truyện trinh thám để thay đổi món ăn, anh Thế
Lữ viết được loại này. Anh nên viết đi!”
Những phần chính của tờ báo là:
VĂN HỌC:
Các
thành viên Tự lực văn đoàn sáng tác rất nhiều tiểu thuyết dài, ngắn với
cách hành văn cũng như cấu trúc tác phẩm mới mẻ, phong phú, đã thay đổi
hẳn không khí văn học thời bấy giờ. Trong đó, nổi bật là tình yêu trong
trắng, lãng mạn, lý tưởng, và xung đột giữa cái mới và cái cũ... Đặc
biệt, những tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng về “luận đề cũ mới” làm
sôi sục xã hội thời đó. Nếu cuốn tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng mở đầu cho sự đổi mới văn chương của nước nhà; Nửa chừng xuân cho người đọc thấy sự xung đột giữa cũ và mới trong xã hội, thì cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh lên đến đỉnh điểm của cuộc xung đột. Nhan đề truyện đã được nhắc lại như một tuyên ngôn: “Đoạn tuyệt với cái cũ!” Đâu đâu trong nước ta cũng thấy nói tới, tranh luận tới truyện này, ngay cả diễn kịch Đoạn tuyệt nữa!
Bên cạnh đó, Nhất Linh viết tiểu thuyết dài, ngắn, ngay trước khi có báo Phong hóa như Nho phong và Người quay tơ. Những tiểu thuyết luận đề của ông, ngoài Đoạn tuyệt, cuốn Lạnh lùng cũng gây nhiều tranh cãi và được độc giả ham thích. Sau đó Nhất Linh chuyển sang viết truyện tâm lý như Bướm trắng... Suốt đời ông, viết văn bao giờ cũng là một niềm vui tri thức, trân trọng và say mê. Sau này ông viết cuốn Xóm Cầu Mới,
viết đi viết lại nhiều lần, mà lần nào cũng long trọng, cũng đắm đuối
như “thuở ban đầu”. Với số lượng tác phẩm to lớn, với văn phong trong
sáng, đẹp đẽ, với tri thức chín chắn trong văn học, Nhất Linh là một văn
hào lỗi lạc của chúng ta.
Về Khái Hưng, khi về
làm việc với Nhất Linh thì vụt sáng lên như sao buổi sớm. Với vốn sống
và kiến thức Đông Tây uyên thâm, Khái Hưng là người kể chuyện rất có
duyên, viết truyện rất thu hút, rất nhân bản, ẩn tàng một ý muốn nâng
cao dân trí, tìm lý tưởng cho thanh niên. Ông có tài viết nhanh, viết dễ
dàng, gần như số báo nào ông cũng có truyện dài, truyện ngắn, kịch, hay
truyện vui, phê bình văn học… Khối lượng tác phẩm của ông thật đồ sộ.
Đọc Phong hóa và Ngày nay, các bạn sẽ được thấy rất nhiều
bài ông viết, chưa từng được in ra sách. Khái Hưng là tác giả được
ngưỡng mộ nhất thời đó, ông đáng mặt văn hào hàng đầu của chúng ta.
Ngoài ra, Khái Hưng còn là tay vẽ ký họa rất khéo. Ông có nhiều bức ký
họa trên báo Phong hóa.
Bên cạnh, Thạch
Lam là một cây viết kín đáo, kén người đọc. Ông viết truyện tâm lý tình
cảm thâm trầm giản dị, nhẹ nhàng mà thấm thía tuyệt vời. Văn ông đi vào
hồn người. Thạch Lam có một tấm lòng quê thật sâu xa. Nguyễn Tuân gọi đó
là: “(Ông)… vừa sống vừa lắng nghe chung quanh cùng là lắng nghe mình
phản ứng trước mọi diễn biến, cả bên ngoài lẫn bên trong mình” (Tiểu luận và chân dung văn học,
Tuyển tập Nguyễn Tuân, trang 353, Nhà xuất bản Văn học, 1982). Thạch
Lam là một văn hào hàng đầu của Việt Nam về sự tinh tế. Trong bài tựa
cuốn Gió đầu mùa, Khái Hưng viết: “Thành thực, đó là đức tính
không có không được của nhà văn, ở Thạch Lam, sự thành thực lại trở nên
sự can đảm. Đọc nhiều đoạn của Thạch Lam, tôi rùng rợn cả tâm hồn vì sự
thành thực (nhất là trong truyện Ngày mới) (4)…”. Ta hãy đọc quan niệm của chính Thạch Lam về văn chương trong Lời nói đầu của tập truyện ngắn Gió đầu mùa:
“…Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc
sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh
cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế
giới giả dối vừa tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và
phong phú”.
Nhiều bài trong Hà Nội 36 phố phường
của ông là những áng văn hay về Hà Nội được nhiều thế hệ sau này nhắc
đến và chắc sẽ được tiếp tục nhắc đến khi nhớ về Hà Nội một thời thanh
lịch. Thạch Lam viết nhiều thể loại kể cả phê bình văn học, mỹ thuật…
Giữ chức Chủ bút báo Ngày nay khá lâu, Thạch Lam quán xuyến công
việc một cách tốt đẹp, phát triển được đội ngũ cộng tác viên hùng hậu,
nhất là số lượng phát hành ngày một tăng. Đó cũng là cái tài của Chủ bút
Thạch Lam.
Riêng Thế Lữ, ngoài thơ ca, là một
cây viết rất cuốn hút, văn phong khác lạ, lý thú, mạnh mẽ, sắc nét… với
tinh thần rõ ràng khúc chiết và tài dàn xếp câu chuyện thật ly kỳ. Thế
Lữ nổi tiếng nhất về những truyện đường rừng như Vàng và máu, Một đêm trăng,… truyện kinh dị như Bên đường Thiên Lôi, Cái đầu lâu… Ông còn nhiều loạt bài phóng sự vui như Lê Ta làm báo, Lê Ta xuống Hải Phòng…
nhiều truyện trinh thám, nhiều kịch bản, cùng nhiều bài phê bình thơ,
kịch... chưa ra sách. Thỉnh thoảng Lê Ta cũng có ký họa đăng báo.
Nhìn
chung, những sách truyện của Tự lực văn đoàn đã được nhiều thế hệ người
đọc yêu thích, góp phần nâng cao dân trí, giúp cho câu văn tiếng Việt
rõ ràng, mềm mại, giúp cho nhiều thế hệ người đọc yêu quê hương, đất
nước... Hơn nửa thế kỷ qua đi, nhiều người đã bàn về những tác phẩm của
Tự lực văn đoàn. Dù thích hay không thích, các nhà nghiên cứu văn học
đều thừa nhận có một dòng văn chương Tự lực văn đoàn. Đây là văn
đoàn đầu tiên của nước nhà và cũng là văn đoàn góp phần to lớn làm nên
cuộc cách mạng văn học trong thế kỷ XX.
BÁO CHÍ
Ngoài
tư cách nhà văn, các thành viên Tự lực văn đoàn còn là những nhà báo.
Họ đi lấy tin, tường thuật, bút chiến…,bằng giọng hài hước họ giễu cợt
các thói xấu của giới quan lại, trưởng giả… Trong các tiết mục như: Câu chuyện hàng tuần, Điểm thời sự, Đọc sách, Trả lời bạn đọc, Ngày nay nói chuyện… mọi thành viên đều viết, và thường được bạn đọc phục vì tài và nể vì tư cách (Ngay cả những bức tranh khôi hài Lý Toét nhiều khi cũng được tạo thành do sự góp ý của nhiều thành viên và họa sĩ. Những bức tranh này thường không ký tên tác giả).
Người
viết những bài lý luận thời sự về xã hội, chính trị, kinh tế… điều
khiển linh hồn tờ báo là Tứ Ly Hoàng Đạo. Qua các loạt bài như: Từ nhỏ đến lớn, về người, Từ cao đến thấp, về việc, Bàn ngang, nói ngược mà hiểu ra xuôi, cũng như loạt bài Hậu Tây Du Ký, Đi thăm Khổng Tử…
Hoàng Đạo không đả phá thẳng vào Mẫu quốc và chế độ thuộc địa mà bắt
đầu tấn công vào các quan lại người Việt bằng cách viết văn châm biếm và
chế giễu. Thêm vào đó, trên cả hai tờ Phong hóa và Ngày nay, ông đã viết ra một khối lượng tài liệu rất lớn về pháp luật, về quyền lợi cũng như nghĩa vụ người công dân, như: Trước vành móng ngựa, Công dân giáo dục, Có cứng mới đứng đầu gió..…giúp người dân hiểu luật pháp, không sợ bị đe dọa, bị bắt nạt. Cũng như loạt bài Bùn lầy nước đọng,
viết về thực tế khốn cùng của nông dân VN, chứng tỏ Tự lực văn đoàn rất
quan tâm đến xã hội, đến việc “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh…” như tinh thần của nhà ái quốc Phan Chu Trinh đã bàn đến hồi đầu
thế kỷ XX. Sau này, rõ ràng nhất là Thuộc địa ký ước, đã phân tích chế độ thuộc địa và những biện pháp cai trị của thực dân Pháp áp dụng ở nước ta.
Những phóng sự về mặt trái của xã hội, do Trọng Lang, cây bút phóng sự sắc nét lúc bấy giờ, phụ trách.
Khi báo Phong hóa
bắt đầu năm 1932, đa số những người trong Tòa soạn còn rất trẻ. Nhất
Linh mới có 26 tuổi, Hoàng Đạo 25, Thế Lữ 25, Thạch Lam 22, Tô Ngọc Vân
26, Nguyễn Gia Trí 24, Lemur Nguyễn Cát Tường 20. Ta thấy trong nội bộ
tòa báo, các đoàn viên đối xử với nhau thật thân ái, vui vẻ hay đùa
giỡn, kết nên những tình bạn sâu xa, bền vững. Bà Khái Hưng nhận xét vui
rằng chồng mình mê các bạn Tự lực văn đoàn như…mê gái! (theo Ba tôi, Trần Khánh Triệu). Thế Lữ cũng nói: “ Không
có báo Phong hóa, Ngày nay, không có bạn bè Tự lực, không có bạn thơ
văn ngày ấy ăn ở với nhau như bát nước đầy, sẵn lòng yêu tài, mến đức
của nhau… thì không có Thế Lữ”. Sau này từ những năm sau 1946 đến
khi mất, Thế Lữ và Tú Mỡ vẫn là đôi bạn chí thiết. Và mấy chục năm sau,
ngay cả khi các thành viên đã khuất núi, các bà Nhất Linh, Cát Tường,
Gia Trí … vẫn thăm viếng nhau, các con cháu dù ở xa, dù chưa biết nhau,
khi gặp lại vẫn có tình thân như anh em trong nhà.
Chúng ta có thể ghé mắt vào tòa soạn báo Phong hóa, xem một buổi làm việc chung, qua ngòi bút của Thế Lữ trong bài Phóng bút của Lê Ta đăng năm 1935 trên Phong hóa số 154 (5). Tú Mỡ sau này cũng kể lại cung cách làm việc chung của nhóm Tự lực rất vui. Trong cuốn sách Tiếng cười
có đoạn nói về cuộc họp tối thứ Bảy trên căn gác ấm cúng số 80 đường
Quan Thánh: “Anh em ngồi chầu ngọn lửa ấm áp, tán chuyện thời sự, nảy ra
đề tài viết bài cho số báo mới… Dạo Khái Hưng và Nhất Linh viết chung
truyện dài Đời mưa gió, hai anh bàn nhau kỳ này nên cho hai nhân vật chính (Tuyết và Chương)
đi đâu, làm việc gì, rồi đột nhiên trái chứng trái khoáy, mỗi kỳ mỗi
anh thay nhau chấp bút. Công việc sáng tác tập thể của các anh là như
vậy” (6).
Chắc có độc giả còn nhớ bức tranh Trăng xưa của
Khái Hưng? Nguyên là: sau khi tiễn Nhất Linh thoát ra nước ngoài vì
chính trị, Khái Hưng quay về vẽ bức tranh tả nỗi buồn nhớ bạn. Thi sĩ
Huyền Kiêu viết bài thơ cảm khái Tương biệt dạ bên bức tranh, xin trích ra đây vài câu:
Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề
Ý sầu lên vút tới sao Khuê…
…Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ,
Có giống như mình lưu luyến chăng?
…Sớm biệt ly nhau, không nhớ nhau
Nửa đêm chợt tỉnh, bỗng dưng sầu
Trăng mùa xuân đó ai tâm sự
Anh đã xa rồi, anh biết đâu.
THƠ MỚI
Hai báo Phong hóa và Ngày nay đã cống hiến cho người đọc những vần thơ mới, ngay từ khi Thơ mới bắt đầu hé nở, khởi đầu bằng bài Tình già
của Phan Khôi. Sau đó, Thế Lữ bước lên vững vàng, ngời sáng khi sáng
tác những bài thơ phong cách hoàn toàn khác lạ, từ lối dùng chữ, đến âm
điệu, đến ý tưởng,… làm ngây ngất người đọc. Thi sĩ được Nhất Linh công
nhận chất sáng tạo mới, trong bài giới thiệu năm 1933 (1). Sau khi tập Mấy vần thơ của
Thế Lữ ra đời, địa vị Thơ mới nổi bật. Danh tiếng của Thế Lữ nổi vững
vàng như là người khởi đầu cho dòng thơ mới. Trên báo ông bắt đầu khám
phá, giới thiệu các thi sĩ trẻ:
Mở đầu là Xuân Diệu. Sự xuất hiện những bài thơ mới của thi si trẻ này trên báo Phong hoá và Ngày nay
lập tức đã làm mê hoặc người đọc: Những bài thơ tràn ngập tình yêu tuổi
trẻ chưa bao giờ say đắm đến thế, những rung động tinh tế rất riêng của
thi sĩ, viết ra bằng những văn thơ xô lệch cả ngôn ngữ, những tiếng thơ
lạ lùng mới tinh đó làm xôn xao tâm hồn người đọc, ngơ ngẩn cả làng thơ
... Thế rồi, mặc cho những người còn dị ứng với giọng văn khác lạ nhưng
Xuân Diệu vẫn được vinh danh là: Ông hoàng của Thơ mới, là người thi sĩ
mới nhất trong những thi sĩ mới (Hoài Thanh Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam), và sau đó ông mau chóng trở nên thành viên cuối cùng của Tự lực văn đoàn.
Rồi đến lượt Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Tế Hanh... đã có thơ đăng trên Ngày nay, được Ngày nay
phê bình, giới thiệu, khuyến khích, hoặc được Giải thưởng thơ của Tự
lực văn đoàn. Họ chính là những người đã góp công gây dựng cả một thời
đại thi ca Việt Nam.
Những chuyên mục như Tin thơ, Tin văn vắn do Thế Lữ phụ trách trên Phong hóa
và Ngày nay là những bài viết bàn về thơ, chỉ dẫn cách làm thơ, thưởng
thức thơ và phê bình thơ rất sắc sảo… được các bạn yêu thơ đón đọc hào
hứng, sôi nổi.
Thế Lữ còn được các thi sĩ trẻ rất phục về việc sửa thơ giùm. Hai lần sửa nổi tiếng trên báo Ngày nay là :
- Câu thơ: Một tối vòm trời chẳng gợn mây của Xuân Diệu, bài Mưa đêm, được Thế Lữ sửa thành: Một tối bầu trời đắm sắc mây.
- Câu thơ: Trăng nằm sóng sượt trên cành liễu, bài Bẽn lẽn của Hàn Mạc Tử, được Thế Lữ sửa thành: Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu.
Tự
lực văn đoàn cũng không quên hồn của cổ thi, nên đã mời Tản Đà về, dành
chỗ trên báo cho thi sĩ dịch Đường thi trong nhiều năm cuối đời. Thêm
nữa báo vẫn đều đều đưa ra những trò chơi văn chương cổ điển như “Câu
đối” dưới dạng thi đua “Đối” làm điên đầu bao nhiêu người đọc!
Phong hóa và Ngày nay
mỗi ngày một nổi tiếng, số phát hành tăng rất nhanh, hoàn toàn không có
đối thủ trong làng báo lúc bấy giờ. Họ tập trung chung lo tờ báo, “anh
em quyết tâm đem hết tài lực làm việc quên mình, không vụ lợi. Bốn anh
rường cột trong tòa soạn (anh Tam, anh Long, anh Giư, anh Thế Lữ) tình
nguyện chỉ lĩnh mỗi tháng 50 đồng đủ sống, để dành tiền lãi làm vốn cho
báo phát triển” (Tiếng cười Tú Mỡ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
1993, trang 27). Và họ đã làm được điều họ muốn: “Xuất thân từ những bàn
tay trắng, Đoàn đã có một số vốn khá to, đủ để xây dựng một nhà in
riêng, để có thể từ nay:
“Ngày nay ngày nay in nhà in nhà”
Đó
là câu đối báo đưa ra để thách đối, đồng thời để báo tin mừng với bạn
đọc. Vế đối đưa ra quá hiểm hóc khó có ai đối được, nhưng bạn của Ngày nay vui mừng” (Tiếng cười Tú Mỡ,
sđd, trg 36). Tự lực văn đoàn còn thành lập Nhà xuất bản Đời nay để in
tác phẩm của anh em trong văn đoàn và của một số cộng tác viên. Chỉ sau
một thời gian ngắn, Đời nay cũng nổi tiếng không thua gì báo Phong hóa và Ngày nay. Đời nay cũng là nhà xuất bản đầu tiên của nước ta in loại sách “mỹ thuật”, cũng như báo Phong hóa và Ngày nay của Tự lực văn đoàn là hai tờ báo đầu tiên trong nước có số đặc biệt cho ngày Tết với tranh bìa in bốn màu.
Báo Phong hóa và Ngày nay của Tự lực văn đoàn còn bao trùm nhiều lãnh vực khác biệt:
MỸ THUẬT
Đông Sơn Nhất Linh đỗ đầu cuộc thi tuyển nhưng chỉ học một năm tại Trường [cao đẳng] Mỹ thuật Đông Dương. Khi bắt đầu Phong hóa,
ông phụ trách trang trí, vẽ minh họa cho toàn thể báo nhà, về sau, chỉ
còn minh họa riêng các truyện mình viết thôi. Người đọc không thể quên
những nét vẽ của ông trong những bức tranh các cô gái dịu dàng, những
cây hoàng lan cao lớn đưa cành lá sậm mầu, xòa xuống chơi vơi trong đêm
vắng, như đong đưa …
Thêm nữa, nhiều người trong Ban biên tập cũng rất yêu hội họa, đôi khi trong Phong hóa và Ngày nay ta thấy tranh Khái Hưng, tranh Hoàng Đạo … Rồi nhiều truyện bằng tranh do Cát Tường vẽ, Thế Lữ viết lời, cũng được xuất hiện.
Những năm sau Phong hóa và Ngày nay
luôn luôn có họa sĩ nhà nghề trình bày báo, vẽ tranh. Những họa sĩ nổi
tiếng của Việt Nam như: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường,
Trần Bình Lộc, Nguyễn Tường Lân (họa sĩ này có tên trùng với Thạch Lam),
Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung...
Hàng năm, trên Phong hóa và Ngày nay
đều có bài bình luận tranh của những phòng triển lãm ở Hà Nội, do
Nguyễn Đỗ Cung, Tô Tử Tô Ngọc Vân, Lemur Nguyễn Cát Tường, Thạch Lam…
viết. Điều này đã nâng cao óc thẩm mỹ, lòng yêu vẻ đẹp cho người đọc.
Ngoài ra, báo Phong hóa và Ngày nay dùng nhiều tranh vẽ rất có giá trị của các họa sĩ tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương làm bìa báo.
Được đặc biệt chú ý là:
Tranh bìa báo Xuân Ngày nay số 46, 1937 của họa sĩ Nguyễn Gia Trí,
Tranh bìa báo Xuân Ngày nay số 198, 1940 của họa sĩ Tô Ngọc Vân
Hiện nay chúng là những bức tranh quý, được tìm mua tại những cuộc đấu giá quốc tế (dù chỉ là tranh in chụp lại!)…
Cũng
nhờ tòa báo luôn tổ chức những cuộc thi có thưởng, như những cuộc thi
vẽ tranh khôi hài và tranh Lý Toét... đã lôi cuốn được rất nhiều họa sĩ
bên ngoài Tòa soạn tham dự vào việc vẽ tranh cho Phong hóa, như
Mạnh Quỳnh, Trần An, Ngym, Dlan,… Ngay cả Bút Sơn người sáng tác ra Xã
Xệ, là một độc giả ở tận Sài Gòn, gửi tranh Xã Xệ đầu tiên tới tòa soạn
năm 1934 (7).
Việc mở rộng vòng tay trước số
đông người viết, người vẽ, người tham dự các kỳ thi, khiến tờ báo càng
ngày càng được yêu mến, nội dung càng trở nên súc tích. Có lúc số báo
phát hành đã lên tới hàng vạn! Một con số mà hầu hết những tờ báo tiếng
cùng thời đều mơ ước.
Cần nhắc lại là trên tờ báo trào phúng, chính Nhất Linh Đông Sơn sáng tác ra Lý Toét. Tranh đầu tiên “Lý Toét ra tỉnh” của ông (8) đăng trên Phong hóa
vào năm 1933. Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, Ba Ếch là những nhân vật hoạt
kê sáng giá của cả một thời đại, dùng để chế giễu, đùa cợt những thói hư
tật xấu của dân ta, để tự biết mà sửa đổi. Và đồng thời cũng khơi dậy
lòng thương người dân quê nghèo khó, đang chịu trăm bề khốn khổ, không
được học hành hiểu biết, nên chỉ biết mình khổ, nhẫn nại chịu khổ, chịu
nhục, bị đè nén bóc lột dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và bọn cường
hào nông thôn.
Cũng theo Nhất Linh, vào thời
điểm đó, phía đàn ông đã có nhiều người mặc Âu phục nhưng về phía phụ nữ
thì y phục vẫn gần như cũ, với áo quần luộm thuộm với mầu sắc tối tăm,
vẫn đôi dép mũi cong với cái nón quai thao cồng kềnh… tuy rằng khi ấy
nơi thành phố đã bắt đầu có những biến chuyển nhỏ về màu sắc như phong
trào “Quần trắng áo lam” nhưng lối thiết kế không khác xưa nhiều…
Rồi rất đột nhiên, báo Phong hóa Mùa Xuân, số 85, 11 tháng 2 ,1934, Nhất Linh cho xuất hiện mục “VẺ ĐẸP riêng tặng các bà các cô”. Ông đã giao
cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường làm cuộc cải tiến y phục phụ nữ. Người họa
sĩ này vừa viết bài, vừa vẽ kiểu… với đỉnh điểm là việc phân tách và
trình bày những ưu khuyết điểm của Y Phục Phụ Nữ đương thời, rồi sau đó,
ông đưa ra những đề nghị đổi mới cho được thích hợp với thời tiết, cho
được thoải mái khi vận động làm máu huyết lưu thông và tôn cao vẻ đẹp
yêu kiều của người phụ nữ.
Đây là lần đầu tiên trên báo Phong hóa và đặc san Đẹp,
do Nhà xuất bản Đời nay phát hành, Cát Tường đã giới thiệu đến độc giả
lần lượt những chiếc áo dài kiểu mới: có cổ, không cổ, có tay, không
tay, những cái quần ống loa, áo yếm… những bộ y phục mặc ở nhà hay trong
phòng ngủ, khi dự tiệc hay khi đi tắm biển và cho tới cả đôi giày, đôi
dép… của phụ nữ Việt đã được chính họa sĩ tạo dáng và tạo kiểu…
Y phục Phụ Nữ Tân Thời Lemur đã được Cát Tường lần lượt cho ra đời cả ngàn kiểu mẫu với nhiều mầu sắc khác nhau…
Cùng
tham gia với họa sĩ Lemur Cát Tường, Đông Sơn (Nhất Linh) cũng đưa ra
mấy kiểu y phục thích hợp cho các em nữ sinh và y phục cho phụ nữ thôn
quê (theo ông thì phụ nữ thành thị dùng cũng được).
Tiếp tục qua báo Ngày nay, Cát Tường viết những bài báo về những đề tài làm đẹp cho phụ nữ
như chuyện dồi phấn, thoa son, chọn mầu vải cho hợp màu da và dáng người, tập thể dục, sống sao cho
được khỏe và đẹp...
Cho tận tới nay Y phục phụ nữ Việt Nam vẫn còn theo dạng y phục Lemur ít nhiều.
ÂM NHẠC
Dưới
chế độ thuộc địa Pháp, phong trào khiêu vũ, nghe nhạc Pháp do các ca sĩ
như Tino Rossi…hát làm say mê giới thanh niên chịu ảnh hưởng văn hóa
Tây phương. Báo Ngày nay đã khuyến khích các nhạc sĩ trẻ Việt Nam viết Tân Nhạc, nhạc Việt, lời Việt. Trong bài: Cùng các nhạc sĩ, Ngày nay số 124, 1938 viết:“
Chúng tôi rất sung sướng thấy các bạn hoan nghênh cái ý đổi mới âm nhạc
Việt Nam…Ngày nay đã nhận lấy cái vinh hạnh đầu tiên công bố những tác
phẩm ban đầu của nền âm nhạc đổi mới…” Chúng ta thấy trên Ngày nay: Hồn xuân, nhạc Nguyễn Xuân Khoát, lời Thế Lữ (10) Một kiếp hoa, Nguyễn Văn Cổn, nhạc Nguyễn văn Tuyên (11), Xuân yêu đương, và Bản đàn xuân
của Lê Thương (12 và 13)…Vậy mà, bên cạnh đó, Tự lực văn đoàn vẫn
khuyến khích những khảo cứu văn hóa cổ, Nguyễn Xuân Khoát có một tập bài
về kỹ thuật, cách thưởng thức “Hát ả đào” (14) đăng trên nhiều số báo Ngày nay năm 1940.
KỊCH NGHỆ
Cùng lúc đó phong trào kịch nói
ra đời, Thế Lữ là một kịch sĩ say mê, đầy tài năng, tự học, đã trở
thành một trong những nhà đạo diễn xuất sắc đầu tiên. Ông muốn xây dựng
nền Kịch nói riêng của Việt Nam. Để mở đầu, thi sĩ vừa là Dạo diễn vừa
là diễn viên cho Ban kịch Tinh hoa của thi sĩ kiêm kịch tác gia
Đoàn Phú Tứ, và sau đó cho Ban kịch Thế Lữ. Cuối cùng, Thế Lữ chịu trách
nhiệm chính trong Đoàn kịch Anh Vũ của Kiến trúc sư Võ Đức Diên. Trong
đoàn kịch này, Thế Lữ có dịp đi diễn nhiều nơi, vào tận các tỉnh miền
Nam Trung Bộ. Từ đó cho đến cuối đời, Thế Lữ tập trung cho sân khấu nói
chung, Kịch nói nói riêng.
Khái Hưng hưởng ứng
tích cực, ông viết nhiều kịch ngắn, kịch dài, kịch thơ. Những nhà viết
kịch khác cũng xuất hiện, như Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Lê Đại Thanh…
rồi Vũ Trọng Can, Hoàng Cầm, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… Cũng như các
kịch sĩ, đã bất chấp những lời chê bai, khinh rẻ “con hát” cổ xưa, các
cô gái con nhà danh giá của Hà Nội cổ kính cũng ra mặt đi diễn kịch…
Đồng thời, những vở kịch thơ như Tục lụy, Kinh Kha,… trở nên nổi tiếng. Nhưng kịch nói có sức thu hút mạnh mẽ bền vững hơn kịch thơ, các ban kịch Tinh Hoa, Thế Lữ, Anh Vũ… trình diễn những vở Ông Ký Cóp, Ghen, Gái không chồng… để lại những dấu ấn sâu sắc, dẫn đến cả phong trào phát triển Kịch Nói.
Trên báo Ngày nay
chúng ta đọc được những bài phê bình kịch của Thạch Lam, Khái Hưng, Thế
Lữ… Tự lực văn đoàn đã có một giải thưởng hàng năm dành riêng cho kịch,
(bên cạch các giải thưởng cho tiểu thuyết, thơ, …). Người được giải
thưởng về kịch của Tự lực văn đoàn đầu tiên là Vi Huyền Đắc.
Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi nhận xét về giai đoạn này trong buổi nói chuyện ở Paris năm 1992:
“Những
người gây dựng Kịch Nói Việt Nam đầu tiên là những người trí thức, hiểu
biết sâu sắc nền văn hoá Pháp, lại vừa là những nhà văn, nhà thơ, nghệ
sĩ hàng đầu của nước Việt Nam. Họ huy động vào cái nghệ thuật mới mẻ này
không chỉ có lòng say mê, bản năng thiên bẩm, và sự hiểu biết về sân
khấu, mà toàn bộ vốn Văn hoá của họ.
Họ tiếp xúc
với sân khấu Pháp không chỉ như một ngành nghệ thuật biệt lập, mà trong
sự tiếp xúc tổng thể với cả một nền văn hóa. Đồng thời bằng uy tín lớn
lao đạt được ở các lĩnh vực văn học nghệ thuật khác, họ đã góp công lớn
thay đổi thân phận con hát hèn kém trong xã hội cũ, tạo ra nhân phẩm mới
cho người diễn viên. Không còn ai dám coi khinh nghề sân khấu khi có
những diễn viên tên là Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Tú Mỡ, Đoàn Phú Tứ, Nguyên
Hồng, Nguyễn Xuân Khoát…
Những người đầu góp công xây dựng nền kịch nói Việt Nam, những nhân cách nghệ sĩ như họ không thể cam tâm với sự bắt chước”.
Tại các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng… dân chúng bắt đầu được thưởng thức những đêm kịch xứng đáng, có giá trị cao.
DÂN SINH
Để cải cách đời sống quá nghèo khổ của đại đa số dân chúng, Hội Ánh sáng do Phong hóa và Ngày nay
bảo trợ ra đời năm 1937, thu hút được đông đảo các nhà hảo tâm. Hai
Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Nhữ Tiếp thiết kế kiểu nhà ánh
sáng, xây dựng giúp cho người nghèo nhà mới nhiều không khí, hợp vệ
sinh… để họ có đời sống tốt đẹp hơn. Hội cũng tổ chức cứu trợ dân bị
nạn, người nghèo khó, thường trực, vận động thành lập Tự lực học đoàn để xóa mù trong nhân dân……
Đó là chưa nói đến những hô hào cải cách tận thâm sâu trong tâm mọi người, trong “10 điều tâm niệm” của Hoàng Đạo (15)…
Ngoài
những tiết mục rõ ràng đó, giữa những trang báo, những tin tức, những
cảnh tượng trong những phiên tòa… người đọc thấy được trên báo Phong hóa và Ngày nay
một kho tàng bài viết và tư liệu rất lớn về lịch sử, về đời sống dân
chúng, về phong tục tập quán dân Việt những năm 1930… cũng như những tố
cáo về những điều cay đắng đau khổ người dân nghèo phải chịu như những
loại thuế lạ lùng: thuế thân, thuế rượu… thực dân quàng lên cổ người dân
nô lệ.
Nhìn ra xã hội, ta thấy trong lúc đa số
dân chúng nghèo khổ cùng cực, mà nha phiến, cờ bạc, rượu chè… lại tự
do! Ôi cái tự do làm những việc chết người! Tranh khôi hài của Ngày nay số 68, vẽ Lý Toét tay giơ chai rượu, miệng ra một tuyên ngôn: “Tự do! Tự do! Chúng mình đã được tự do uống rượu rồi còn gì nữa!” Nghe thật xót xa!
Kính thưa quý vị độc giả,
Những điều trên chỉ là cái nhìn thô thiển của kẻ hậu học trước cái núi báo gồm toàn thể 414 số báo Phong hóa và Ngày nay!
Chúng tôi xin ngừng lại phần giới thiệu tại đây, để các bạn tự đọc và
tự khám phá, cùng thưởng thức và nghiên cứu những số báo này.
Trở lại tòa báo Phong hóa, mọi việc không được xuôi chèo mát mái như mong muốn. Ngày 31/05/1935 báo Phong hóa đã bị Thống sứ Bắc Kỳ đình bản ba tháng. Và hơn một năm sau, sau số 190, ngày 5/6/1936, Phong hóa bị rút giấy phép, đóng cửa hẳn.
Đoán biết sẽ có ngày Phong hóa
bị chết, Nhất Linh đã xin phép ra một tờ báo dự trữ thứ hai, do Nguyễn
Tường Cẩm, anh của ông, một công chức, đứng tên. Đó là tờ báo Ngày nay hiền lành, chỉ chuyên về mỹ thuật, văn chương. Báo Ngày nay số 1 phát hành ngày 31/01/1935 (lúc đầu mỗi tháng ra 3 số, và báo cũng không xuất bản thường xuyên). Khi Phong hóa bị đóng cửa, toàn thể Ban biên tập quay ra làm việc cho Ngày nay, dần dần xây dựng cho tờ báo mới phong độ của Phong hóa cũ. Thật ra Tự lực văn đoàn đã xây dựng cả hai báo, đã hiện đại hóa về cơ bản cách diễn đạt và đặc biệt văn phong Việt Nam, thậm chí có thể nói cả về cách suy nghĩ nữa.
Báo Ngày nay
ra tất cả được 224 số, với khá nhiều lỗ hổng trắng hếu trên báo, đó là:
“Kiểm duyệt bỏ!”. Tranh khôi hài Lý Toét, gọi cái đầu trọc trống trơn,
chỉ có một sợi tóc của Xã Xệ, là: “Kiểm duyệt bỏ”. Năm 1939 sau số 206,
ngày 6 tháng 4, báo Ngày nay tạm đình bản năm tuần, (Chúng tôi
không rõ lý do, vì lần này không có vẻ là một lần bị Kiểm duyệt đóng
cửa. Có thể là do không có giấy in chăng?, Lúc này đang chiến tranh,
việc chuyên chở giấy đang có vấn đề lớn). Nhưng hơn một năm sau, sau số
224 ra ngày 07/09/1940, báo Ngày nay bị rút giấy phép, đóng cửa
hẳn. Như bao nhiêu báo Việt Nam từ trước tới lúc này, không ai biết đựơc
nguyên nhân. Ngay cả hồ sơ mật vụ để ở Aix en Provence cũng không thấy
nói tới.
Không còn báo Ngày nay, Tự lực văn đoàn
chỉ còn nhà in, Nhà xuất bản Đời nay, hoạt động cầm chừng, tiếp tục in
sách, thơ, tiểu thuyết… Một vài cố gắng của Thạch Lam và Khái Hưng ra
báo Chủ Nhật, rồi cũng sớm bị rút giấy phép. Nhất Linh thoát ra hải ngoại… Năm 1942, Thạch Lam mất vì bệnh lao.
Năm
trước đó, tại Hà Nội, Hoàng Đạo, Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí, bị Pháp
bắt, mấy tháng sau bị đưa lên Vụ Bản Hòa Bình, 1941-1943. Hoàng Đạo và
Nguyễn Gia Trí bị tra tấn tàn nhẫn. Sau đó, Pháp đưa Nguyễn Gia Trí đi
an trí ở Thủ Đầu Một. Hoàng Đạo an trí ở Hà Nội.
Năm 1945, một số thành viên cũ như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Tú Mỡ, Thanh Tịnh, Nguyễn Tường Bách… tụ tập lại, cho ra tờ Ngày nay Kỷ nguyên mới,
được 16 số thì đình bản vào ngày 18 tháng 8 năm 1945. Hiện nay vì chưa
sưu tầm và thẩm định những số báo này, nên chúng ta tạm coi như Ngày nay số 224, ngày 07 tháng 09 năm 1940, là số báo cuối cùng.
Nhìn
kho tàng văn học vô cùng đồ sộ của các vị tiền nhân nằm yên trong tủ
sách bao nhiêu năm nay, nhiều người trong chúng tôi đã có ước mơ: “Làm một điều gì đó”:
- Để làm sống lại một công trình văn hóa hàng đầu của dân tộc.
-
Để tất cả mọi người dân Việt có thể được đọc lại và thưởng thức cái đẹp
của văn chương thời chuyển đổi, một nền văn-chương-mới, một nền
mỹ-thuật-mới được khai phá và nở rộ.
- Và cũng
để nhìn lại bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế trong một giai đoạn lịch
sử cận đại đầy khó khăn, đầy xáo trộn của đất nước dưới chế độ thuộc
địa Pháp.
Được khuyến khích, hưởng ứng từ rất
nhiều bè bạn khắp nơi cùng các Giáo sư và sinh viên tại các trường đại
học trên thế giới, cho nên dù biết rằng công trình hãy còn sơ sài, chắp
vá… và chắc chắn có nhiều điều không được hoàn hảo như mong muốn nhưng
chúng tôi vẫn cố gắng “… Vác ngà voi” và mang tâm trí và sức lực ra thực
hiện việc “SỐ HÓA” và phát hành sưu tập Phong hóa và Ngày nay: Một di sản chung của tất cả mọi người dân Việt chúng ta.
Bởi vì, có lẽ chúng ta khó lòng tìm được một văn đoàn tài giỏi, làm việc hăng say thể hiện sâu sắc tình yêu nước, yêu dân, yêu tiếng Việt, lại có đủ thời cơ thực hiện được một công trình văn hóa xứng đáng như thế nữa.
Phạm Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền
| Kính thưa toàn thể độc giả trên thế giới, khi đọc những số báo Phong hóa và Ngày nay
này trên máy vi tính, có thể quý vị sẽ thấy thiếu vài trang báo nơi này
nơi khác, hoặc một vài chỗ bị hỏng không đọc được, chúng tôi tha thiết
kêu gọi quý vị nào nếu đã được trông thấy hay đã biết: Có TRANG BÁO TỐT HƠN để thay thế trang không đọc được hay để bổ sung các trang thiếu… Cũng như, tung tích những số báo Chủ Nhật, Ngày nay Kỷ nguyên mới và Sách Hồng… xin LIÊN LẠC VỚI NHÓM KỸ THUẬT của chúng tôi qua email: PHNN-TechGroup (hn90250@yahoo.com) Chúng ta sẽ chung sức tăng cường tài liệu sưu tập về nhóm Tự lực văn đoàn cho thật đầy đủ. |
- Nhất Linh, Nguyễn Thế Lữ, một người mới trong làng thơ mới, PH số 54, 1933
- Giải thưởng Thơ Tự lực văn đoàn 1939, Nhất Linh, NN số 209, 25/5/40
- Trích Hồi ký của Tú Mỡ.
- Khái Hưng, Tựa Gió đầu mùa của Thạch Lam, NN số 89.
- Phóng bút của Lê Ta, PH số 154, 1935
- Tiếng cười, Tú Mỡ
- Tranh Bút Sơn, bìa PH số 89, ngày 16/3/1934
- Lý Toét ra tỉnh, Đông Sơn, PH số 48, 1933
- Lemur Cát Tường, Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô: PH số 88, 1934 và nhiều số kế tiếp.
- Hồn Xuân, Nguyễn xuân Khoát, lời Thế Lữ, NN số 149-10
- Một kiếp hoa, Nguyễn văn Tuyên, NN số 122-11
- Xuân yêu đương, Lê Thương, NN Xuân 1939, số 149,-11
- Bản đàn xuân, Lê Thương, NN Xuân 1940, số 198,
- Hát ả đào, NN số 214, và các số kế tiếp.
- 10 điều tâm niệm, Hoàng Đạo, NN số 25 và các số kế tiếp.Nhóm kỹ thuật trực tiếp chia sẻ với BVN, có tiếp thu cách trình bày của Diễn đàn 21-9-2012
Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2012/09/ung-ngay-nay-80-nam-truoc-bao-phong-hoa.html
Đúng ngày này 80 năm trước báo Phong hóa do Nhất Linh chủ trì ra đời
Ngày 22-9-1932, tờ Phong hóa
số 14 do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam làm Giám đốc (sau khi mua
lại giấy phép từ ông Phạm Hữu Ninh), ra mắt ở Hà Nội, gây một tiếng vang
rất lớn, mở ra một thời kỳ mới, đậm sắc thái dân chủ, trong đời sống
báo chí Việt Nam, đồng thời cũng góp phần đưa văn học Việt Nam bước hẳn
vào chặng đường hiện đại theo trào lưu văn học phương Tây, khép lại 10
thế kỷ văn học cổ truyền lấy văn hóa Trung Hoa làm hệ quy chiếu.
Để ghi nhớ bước đột phá quan trọng ấy, kể từ hôm nay BVN xin lần lượt gửi đến bạn đọc xa gần toàn bộ các files ảnh hai tờ báo Phong hóa và Ngày nay do
nhóm các anh chị Phạm Thảo Nguyên, Nguyễn Trọng Hiền, Martina Nguyễn
Thục Nhi, Vu Gia, Nguyễn Tường Thiết và một số người khác... phân công
sưu tầm, chụp lại, và áp dụng kỹ thuật số để đưa lên mạng theo định dạng
PDF, đi kèm với bài Giới thiệu “Phong hóa” và “Ngày nay” do Phạm Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền chấp bút. Bạn đọc có thể download các files do BVN
cung cấp để sử dụng làm tài liệu tham khảo. Nhân đây, xin được bày tỏ
lời tri ân của chúng tôi đối với việc làm kỳ công của Nhóm kỹ thuật vì
lợi ích thiết thân của văn hóa dân tộc, cũng như tinh thần chủ động chia
sẻ vô vụ lợi của các bạn cho nhiều trang mạng cùng đồng loạt công bố.
Cũng nhân kỷ niệm 80 năm báp Phong hóa ra đời dọn đường cho việc thành lập Tự lực văn đoàn đúng một năm 6 tháng sau đó, BVN xin đăng lại dưới đây bài tham luận Thử định vị Tự lực văn đoàn
của GS Nguyễn Huệ Chi đọc trong Hội thảo khoa học về Tự lực văn đoàn do
sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Hải Dương phối hợp với UBND huyện Cẩm
Giàng và các Hội Khoa học Lịch sử, Văn học Nghệ thuật Hải Dương tổ chức
tại thị trấn Cẩm Giàng ngày 9-5-2008. Bài tham luận đã được các báo Văn nghệ, tạp chí Khoa học và Tổ quốc...
cùng một số trang mạng trong ngoài nước đăng tải, và nhận được nhiều
phản hồi bổ ích, như ý kiến của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con trai út
nhà văn Nhất Linh, hiện cư trú tại hoa Kỳ (www.talawas.org).
Bauxite Việt Nam
Link download Phong Hóa từ số 14 – 21:
TỔNG QUÁT SƯU TẦM PHONG HÓA VÀ NGÀY NAY BÚT HIỆU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN GIỚI THIỆU PHONG HÓA Và NGÀY NAY PH14 PH15 PH16 PH17 PH18 PH19 PH20 PH21 |
THỬ ĐỊNH VỊ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Nguyễn Huệ Chi

Ảnh: Hy Tuệ
Trước
khi phát biểu mấy ý kiến trong bản tham luận ngắn này - giới hạn vào
hai đặc điểm thuộc tính theo tôi là cốt lõi của Tự lực văn đoàn với tư
cách một tổ chức văn học, chứ không bàn sâu đến thành tựu sáng tác của
họ - xin được nói vài lời phản biện với bản Báo cáo đề dẫn mở đầu
Hội thảo, trong phần điểm lại hai mặt: con người tiến bộ và con người
phản động của Nhất Linh, nhân người đề dẫn có mời gọi sự phản biện của
đại biểu “để cho ý kiến đề dẫn sáng tỏ hơn”.
Tôi
nhắc lại một câu bất hủ trong lá thư tuyệt mệnh của nhà văn Nhất Linh:
“Đời tôi để cho lịch sử xử”. Nhất Linh tin chắc lịch sử sẽ phán xử công
bằng với mình. Nhưng lịch sử mà ông hiểu là cả một thời đoạn dài, đủ sức
sàng lọc mọi giá trị và vén xong các lớp mây mù để lộ diện quy luật vận
hành khách quan của nó. Lịch sử quyết không phải là phát ngôn của quyền
lực ở bất kỳ thời điểm nào đấy, càng không phải là phát ngôn của những
ai ảo tưởng rằng mình chính là tiếng nói cuối cùng của chân lý. Nếu chấp
nhận với nhau trên một cách nhìn như thế, tôi nghĩ, câu nói của Nhất
Linh phải được coi là nguyên tắc phương pháp luận then chốt của cuộc hội
thảo khoa học tại địa điểm Cẩm Giàng hôm nay, cũng như mọi cuộc hội
thảo về Nhất Linh và Tự lực văn đoàn rồi đây sẽ còn được tiến hành ở
những vùng miền khác. Có nhiều con đường yêu nước khác nhau chứ không
phải chỉ một, và sự so sánh hơn kém đúng sai giữa chúng, thông qua một
góc nhìn thường là chật hẹp, nặng tính chất thời vụ, bao giờ cũng chỉ
rút ra được những giá trị hết sức tương đối, đôi khi là giá trị ảo. Chưa
biết con đường nào đã hay hơn con đường nào nhưng nếu nhà yêu nước nuôi
dưỡng trọn đời một lý tưởng trong sáng, không có mưu đồ đem giang sơn
Tổ quốc mà mình giành được ra chia chác, “xã hội hóa” vô vàn đất đai béo
bở thành của riêng của bè cánh mình, họ hàng con cháu mình, làm cho đất
nước lại có nguy cơ lâm vòng hiểm họa, thì trước sau, hình bóng họ sẽ
vẫn ghi đậm trong lòng dân chúng.

Nguyễn Huệ Chi phát biểu. Ảnh: Hy Tuệ
1.
Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ
tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại. Hội đoàn ấy bắt đầu
bằng một tờ báo, đấy là tờ Phong hóa bộ mới mà số đầu tiên phát
hành vào ngày 8 tháng Chín năm 1932 - tức số 13 - đã lập tức biến một tờ
báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong làng báo Hà Nội
lúc ấy. Theo Nguyễn Vĩ, ngay số đầu tiên, tờ báo đã “bán chạy như tôm
tươi” (Văn thi sĩ tiền chiến) báo hiệu một cái gì thật mới mẻ
đang xuất hiện trên đất Hà thành. Hội đoàn ấy chính thức tuyên bố thành
lập vào tháng Ba năm 1934(1), với một tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có
thể tổng hợp lại trong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên
quan khăng khít, tự thân chúng có ý nghĩa đối trọng ngay lập tức với
hiện tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời: 1. Về văn học,
tôn chỉ nhắm tới 3 mục tiêu lớn: a. Dấy lên một phong trào sáng tác làm
cho văn học Việt Nam vốn đang nghèo nàn có cơ hưng thịnh (“Tự sức mình
làm ra những cuốn sách có giá trị về văn chương... mục đích là để làm
giàu thêm văn sản trong nước”/ trước 1930 sự vắng vẻ của văn đàn vẫn là
một tâm trạng mặc cảm của giới cầm bút, mặc dầu văn học miền Nam đã sản
xuất vô số tiểu thuyết văn vần và văn xuôi theo hình thức lục bát và
chương hồi); b. Xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng (“Dùng
một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách
An Nam”/ ngôn ngữ của tạp chí Nam phong đại diện cho tiếng nói
văn chương thuở ấy vẫn là ngôn ngữ đệm nhiều danh từ Hán Việt và dành
cho tầng lớp học thức cao trong xã hội); c. Tiếp thu phương pháp sáng
tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa văn học dân tộc (“Đem phương
pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam”/ ảnh hưởng của
tiểu thuyết phương Tây đã đến miền Nam khá sớm nhưng hình thức lại bị
“lại giống” do “lai” với tiểu thuyết cổ Trung Quốc); 2. Về xã hội,
đề cao chủ nghĩa bình dân và bồi đắp lòng yêu nước trên cơ sở lấy tầng
lớp bình dân làm nền tảng (“Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có
tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình
dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái” / cho đến cuối những năm
20, các khái niệm “chủ nghĩa bình dân”, “nết hay vẻ đẹp bình dân” và
“yêu nước một cách bình dân” hãy còn là quá mới lạ, chưa hề xuất lộ
trong tư duy của tầng lớp sĩ phu được gọi là “tiên tri tiên giác”, và
cũng chưa hiện hình thành quan điểm ở một người vốn đã thực hiện chủ
nghĩa bình dân trong thực tiễn như Nguyễn Văn Vĩnh); 3. Về tư tưởng,
vạch trần tính chất lỗi thời của những tàn dư Nho giáo đang ngự trị
trong xã hội (“làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa” /
công khai chống lại lễ giáo phong kiến Tự lực văn đoàn đã gây một cú
“sốc” ý thức hệ, chấn động hết thảy mọi thành phần còn dính dáng ít
nhiều đến Nho học, thậm chí vẫn để dư chấn đến tận Hội thảo này); 4. Về con người,
lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng tác (“Tôn
trọng tự do cá nhân”, “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu
và tin ở sự tiến bộ” / văn chương trước 1930 chưa bao giờ đưa con người
cá nhân lên vị trí trung tâm, không những thế, giọng điệu chung của nó
là bi ai sầu thảm. Tự lực văn đoàn tuyên chiến với thứ tâm trạng xã hội
nặng nề đó; với nó “cái bi” cũng phải được đối xử, vượt qua, bằng niềm
vui sống).
Với 4 điểm như đã tóm tắt, cái hội
đoàn do Nguyễn Tường Tam thành lập rõ ràng đã hiện ra trong tư cách một
trường phái văn học hoàn chỉnh, khu biệt với mọi kiểu tổ chức văn học
xuất hiện trước mình. Trở về trước, các thi xã truyền thống trong lịch
sử thường phải dựa vào thế lực của một tầng lớp bên trên như vua quan,
hay lãnh chúa một vùng, chẳng hạn Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông, Chiêu
Anh các của Mạc Thiên Tích. Hoặc là tập hợp của một đám thượng lưu quý
tộc, chẳng hạn Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Thẩm. Các loại thi xã đó
đều lấy việc ngâm vịnh văn chương để chơi làm mục đích, nên rất
ít mở rộng ảnh hưởng ra ngoài thi xã. Tính khép kín là đặc điểm hiển
nhiên của chúng. Tự lực văn đoàn trái lại, là sự tập hợp những con người
không có quan tước, cũng không có thế lực nào bảo trợ. Họ gồm 7 người
là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu
(không có Trần Tiêu)(2). Đứng về mặt xã hội phải nói họ đều là “chân
trắng”. Nhưng họ lại tập hợp nhau lại vì một lý tưởng muốn cống hiến cho
văn học, thông qua văn học mà đóng góp cho xã hội, và cùng chung sức
nhau xã hội hóa hoạt động sáng tác của họ, trong sự vận hành của cơ chế
thị trường văn học nghệ thuật đang dấy lên từ Nam ra Bắc thuở bấy giờ.
Nghĩa là họ chấp nhận sự cạnh tranh để sống còn bằng nghề văn của mình.
Họ không chỉ biết đến tiểu thuyết, thơ ca mà còn ràng buộc với nhau
trong việc sống nhờ vào hai tờ báo và một nhà xuất bản. Họ không hy sinh
mục đích văn chương cao quý cho việc kiếm kế sinh nhai bằng mọi giá,
nhưng việc kiếm kế sinh nhai lại chính là điều kiện để họ giữ vững thiên
chức văn học như một “mục đích tự thân”(3), điều mà có lẽ, từ 1945 đến
nay, chưa một văn đoàn nào trên đất Việt làm nổi và có ý thức, có
gan làm (còn nhớ cách đây vài năm, khi có ý kiến đề xuất chuyển các hội
sáng tác văn học nghệ thuật trở về đời sống dân sự đúng nghĩa, bỏ hẳn
cơ chế “xin cho”, thì chính các vị lãnh đạo ở các hội ấy đã đồng loạt
lên tiếng khẩn thiết đòi bảo vệ quyền thiêng liêng của mình là... vẫn
được sống dựa vào Nhà nước). Cũng khác với các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm
Quỳnh, để có thể tổ chức được một nhóm cầm bút với mục đích truyền bá
cái mới của Âu Tây cũng như bước đầu xây dựng nền văn chương quốc ngữ,
đều không tránh khỏi phải núp bóng Nhà nước Bảo hộ, Tự lực văn đoàn là
một đoàn thể văn học hoàn toàn mang tính chất tư nhân, không ve vãn,
nhân nhượng bộ máy đương quyền và không hề phát ngôn cho quyền lực dù
lâm vào tình huống o ép khó xử nhất.
Như vậy,
có thể nói, Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn
học Việt Nam. Những mặt ưu trội kể trên đưa lại cho nó một sức hấp dẫn
đặc biệt, không tiền và nếu tính đến nay thì cũng là khoáng hậu, đẩy nó
lên địa vị gần như tuyệt đối trên văn đàn trong vòng 8 năm nó tồn tại
trên thực tế. Sự ra đời của nó có tác dụng kích thích phong trào sáng
tác văn học của cả nước như là một tất yếu, một nhu cầu nội tại, với tư
cách một sự tìm kiếm và tự thực hiện của khát vọng tự do. Đó là phương
diện chủ chốt vạch rõ sự khác biệt bản chất giữa nó với các hội đoàn văn
học từ 1945 về sau mà ta không thể mượn tiêu chí này kia làm những cột
mốc so sánh.
2. Bên cạnh đặc điểm quan
trọng như đã nói, một phẩm chất khác cũng không kém nổi bật là Tự lực
văn đoàn thể hiện cái khát vọng dân chủ trong đời sống văn học nghệ
thuật. Dân chủ trước tiên chính ở nề nếp sinh hoạt rất có tính nguyên
tắc của một tổ chức văn học được xây dựng theo những chuẩn mực mới mẻ
của Âu Tây. Không chỉ đề xuất ra 10 tôn chỉ mà thôi, để luôn luôn quán
triệt 10 tôn chỉ trong hoạt động thực tế, mọi công việc của văn đoàn,
nhất là công việc ra từng số báo, in từng cuốn sách, đều được bàn bạc
tập thể, đều có tranh luận sôi nổi với nhau và cuối cùng có sự nhất trí
của cả nhóm. Tư cách rất đáng trọng của Nhất Linh khiến ông làm tròn vai
trò hạt nhân của văn đoàn cho đến khi nó tan rã là ở chỗ, mặc dù quyết
đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế một ông bầu và một ông chủ báo,
hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hết các ông chủ
báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức. Ông hòa hợp
mật thiết với anh em đồng đội, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác
tất cả mọi việc không khác gì anh em. Chính vì thế, tình nghĩa giữa 7
con người trong văn đoàn, như Tú Mỡ thừa nhận, giữ được thắm thiết sâu
bền. Quan trọng hơn nữa, nếu như Đông Dương tạp chí cũng có cả
một tòa soạn song rốt cuộc mọi cá nhân khác đều dường như lu mờ đi sau
cái bóng của Nguyễn Văn Vĩnh; nếu như Bộ biên tập của Nam phong tạp chí còn hùng hậu hơn Đông Dương tạp chí
mà vẫn không ai nổi đậm bằng hoặc hơn so với Phạm Quỳnh, thì Tự lực văn
đoàn toàn toàn khác. Nói đến văn đoàn ấy không thể chỉ nói một mình
Nhất Linh. Trọng lực của văn đoàn phân đều cho mỗi thành viên và chỉ cần
thiếu đi một, sáu “ngôi sao” còn lại đã không thể hội tụ thành nguồn
ánh sáng tiêu biểu của văn đoàn. Đông Dương và Nam phong
dù sao cũng chỉ mới là sự thăng hoa tài năng của một vài cá nhân, còn
đến Tự lực văn đoàn thì đã thật sự có một đột biến về chất: một sự thăng
hoa tập thể, nó là kết quả của ý thức dân chủ từ người đứng đầu chuyển
hóa sang đồng đội. Tất nhiên, cũng không phải vì thế mà uy tín người thủ
lĩnh của Nguyễn Tường Tam bị hạ thấp hay xem nhẹ. Là một nghệ sĩ đa
tài, một con người giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa, Nhất Linh đã biết
đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết
truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt
tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả
trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể
loại. Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận
thuyết trên các báo Văn học tạp chí, Duy tân (dưới bút danh Bán Than) sang
viết tiểu thuyết; Tú Mỡ được ông gợi ý chuyên làm thơ trào phúng; Trọng
Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự; còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn
Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”… Có ai ngờ được rằng bấy
nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp
án chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn
đoàn nghiễm nhiên là một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi
chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận. Và mỗi
thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cái hình
thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch. Không ai còn có
thể tranh ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến
giọng thơ trào phúng kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế
Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn. Cũng không
thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà về sau ít
người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn
thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say
quyến rũ. Riêng Nhất Linh không những không nhường Khái Hưng về tiểu
thuyết, ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng, không mỏi. Vừa
cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên mê
thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy
việc phân tích các biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn),
rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết khơi sâu vào những miền
khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhất
trong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi”
phân thân, tự hủy, ít nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng)...
Có thể nói từ sinh hoạt dân chủ trong nội bộ, thấm vào tình cảm của mỗi
thành viên rồi tác động qua lại lẫn nhau, tinh thần dân chủ đã như một
chất men kỳ lạ kích thích niềm phấn hứng sáng tạo của từng cá nhân trong
văn đoàn, bắt người nào cũng gắng sức đua tranh không chịu kém thua
người khác, khiến họ đều vươn tới vị trí đỉnh cao trên đàn văn cũng như
bộc lộ hết tài hoa của họ. Tác động liên hoàn giữa khát vọng dân chủ đến
bùng nổ sức sáng tạo chính là như vậy.

Phía
trước nơi xưa kia là “Trại Cẩm Giàng” nhìn ra con đường xe lửa trong
truyện ngắn Thạch Lam. Từ trái sang: Phong Lê, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Huệ
Chi, Chương Thâu. Ảnh: Hy Tuệ
Nhưng là một tổ
chức văn học và báo chí có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, tinh thần dân
chủ nhen nhóm trong văn đoàn Tự lực cũng đã lan tỏa dần ra ngoài, đúng
hơn, nó được cả văn đoàn sử dụng như một nguyên tắc thẩm mỹ và một
nguyên tắc hành nghiệp linh hoạt mà bất biến, trong bất kỳ mọi sáng tạo
văn học nghệ thuật cũng như mọi hoạt động xã hội nào của họ.
Dân
chủ ở ngay cách đối xử với cộng tác viên nhiệt tình, trân trọng và hết
mực chu đáo, kể cả với người lần đầu cầm bút, nâng hẳn tầm thước của họ
lên trong chính mắt họ, đặt họ ngang hàng sòng phẳng với mình, gieo vào
lòng họ niềm tin ở thiên hướng nghệ thuật mà họ thực sự có tài năng và
đang tận tâm đeo đuổi(4). Tự lực văn đoàn là nơi phát hiện ra Anh Thơ,
Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thanh Tịnh...
Cũng Tự lực văn đoàn lần đầu tiên trình diện các bậc danh họa Tô Ngọc
Vân, Nguyễn Gia Trí, xướng lên cuộc cải cách y phục với kiểu áo “Lơ
muya” của họa sĩ Cát Tường, và công bố trên tờ báo của văn đoàn những
bài tân nhạc của Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương... Dân chủ còn ở cách họ
tổ chức các giải thưởng văn học đầy uy tín, như những trọng tài tận tụy,
công tâm, mà một điều khoản hệ trọng được đặt lên đầu là Hội đồng Giám
khảo không bao giờ lại đồng thời là ứng viên dự giải - chuyện tưởng
chừng “sơ đẳng”, đến phong kiến cũng có luật “hồi tị”, mà hóa ra trong
nền văn học nghệ thuật của chúng ta suốt bằng ấy năm đã bị đảo ngược và
cái đảo ngược đã trở thành “thông lệ”, đến nỗi ở thời điểm 1956 học giả
Phan Khôi không sao hiểu được phải lên tiếng phê bình, oái oăm thay là
sự thẳng thắn đó đã giáng tai họa lên đầu ông. Bởi thế, khi xác nhận
công lao của Tự lực văn đoàn như một hội đoàn có vị trí khai sáng trong
văn học hiện đại ta không nên quên rằng chính cái văn đoàn ấy, với đích
nhắm nghệ thuật vô tư, trong sáng, với văn hóa ứng xử đàng hoàng, mẫu
mực, phương pháp điều hành minh bạch, quy tụ được rộng rãi tinh hoa văn
nghệ trong cả nước, đã khai sáng ra cùng với nó những hình thức thể loại
mũi nhọn trong văn học hiện đại Việt Nam và cả trong nghệ thuật hiện
đại Việt Nam như hội họa, ca nhạc mà nó là nơi thể nghiệm, nơi ghi dấu
ấn của những đại biểu tiên phong.
Vài chục năm
qua kể từ sau đổi mới, chúng ta đã dành nhiều giấy mực để luận bàn nhằm
từng bước giải tỏa nhiều thành kiến khắt khe, cố chấp, cố gắng trả về
cho lịch sử văn học những giá trị đích thực của khối lượng tác phẩm do
Tự lực văn đoàn để lại(5). Ta đề cập tới trong sách vở của họ các khuynh
hướng đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, khuynh hướng lãng mạn, ca
ngợi tình yêu và hạnh phúc cá nhân, khuynh hướng nghiêng mình xuống số
phận những con người cơ cực, bần cùng, cho đến khuynh hướng không bằng
lòng với cuộc sống trưởng giả, tẻ nhạt cũ kỹ, quyết dấn thân vào con
đường gió bụi, “mê man trong hành động”, tuy chưa biết hành động sẽ đi
đến đâu nhưng ít nhất cũng là sự giải thoát cho mình khỏi nỗi mặc cảm
đau xót của thân phận người dân mất nước v.v... Ta cũng không quên cuộc
cách tân văn xuôi to lớn của họ, cấp cho họ một giọng văn trong trẻo,
chuẩn mực, giàu sức biểu cảm tuy có lúc còn đơn điệu, và một cấu trúc
thể loại mới mẻ, trong đó quy luật tâm lý thay cho trục diễn tiến đường
thẳng theo trình tự thời gian và cái nhìn đa chiều trong soi chiếu nhân
vật thay cho lối trần thuật một giọng của người kể chuyện; là sự có mặt
của thiên nhiên như một đối tượng thẩm mỹ, v.v.
Nhưng
điều có dễ chưa mấy ai lưu ý là từ tất cả những bình diện khác nhau
kia, tác phẩm của Tự lực văn đoàn hình như đã đúc nên được một phong vị
khó lẫn, nó là cái yếu tố ẩn sâu dưới tầng ngôn bản, kết nối các giá trị
ấy lại với nhau. Theo tôi, đó chính là vẻ đẹp của tinh thần dân chủ mà
mỗi thành viên đã thấm nhuần sâu sắc và chuyển tải vào tác phẩm theo
cách riêng. Chính nó đã gây ra cho người đọc đương thời biết bao nhiêu
bâng khuâng thắc thỏm về một điều gì mới lạ mà mình không lý giải nổi
khi đọc văn chương của nhóm Tự lực; cũng chính nó bắt người đọc nhập
thân vào thế giới nghệ thuật của Tự lực văn đoàn không giống như đi vào
thế giới của các nhà văn hiện thực phê phán, một bên là cái thế giới bắt
mình có sự nghiệm sinh trong đấy, bên kia là cái thế giới để mình phẫn
nộ, lên án, nhưng không nhất thiết có mối liên lạc với mình. Phải chăng
khi đến với những trang viết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam... bao
giờ người ta cũng phải bắt mình đối diện với chính cái “tôi” một cách
bình đẳng, nghiền ngẫm tra vấn nó, tức là nhìn vào thế giới sâu thẳm bên
trong mình. Dân chủ trong tiếp nhận văn học trước hết là ở đấy. Dù ngày
nay ngôn ngữ văn chương không ít tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã bộc lộ
sự mòn sáo thì âm hưởng “tự nghiệm” của chúng vẫn không cũ.
Tuy
nhiên, điều rất cần nhấn mạnh ở đây còn là một phương diện khác, một
cách biểu hiện dân chủ bằng sự vận dụng hữu hiệu ngôn ngữ trào phúng.
Với tờ báo Phong hóa, ngay từ buổi đầu thành lập, Tự lực văn đoàn
đã biết nắm lấy một vũ khí lợi hại là tiếng cười. Ai cũng biết tiếng
cười là một liều thuốc hóa giải được mọi khổ đau. Về mặt mỹ học, xin
mượn một câu nói của Hegel: nó “trình bày cái thế giới hư hỏng như là
đang giãy giụa chống lại tình trạng hư hỏng của mình, tình trạng này
biến mất do tính chất vô nghĩa lý ở bản thân nó”(6). Tiếng cười còn thần
kỳ ở chỗ, chỉ trong phút chốc, mọi địa vị xã hội bị nó đảo lộn, thằng
hóa ra ông, ông hóa ra thằng. Tận dụng được các phương cách này, đúng
như Vu Gia nói, tờ báo Phong hóa có sức công phá như một “trái
bom nổ giữa làng báo”(7). Dưới ngòi bút của họ, cả một xã hội gồm những
ông tai to mặt lớn trong giới quan trường, học thuật, báo chí, văn
chương, uy thế đến như Toàn quyền Brévié, Thống sứ Châtel, Khâm sứ
Graffeuil, Hoàng đế Bảo Đại, Thượng thư Phạm Quỳnh, Tổng đốc Hoàng Trọng
Phu, Đốc lý Virgitti, cho đến cả những nhân vật hủ lậu ở nông thôn mà
biểu tượng là Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh... đều bị đem ra chế giễu, bị
ngòi bút châm chọc của họ làm cho điêu đứng. Bằng tiếng cười của mình,
Tự lực văn đoàn đã khéo léo hạ bệ các thần tượng phong kiến và thực dân,
đưa các vị xuống đứng cùng hàng với đám chúng sinh khổ ải. Mặt khác,
lại cũng phải nói như Vũ Bằng, sự chế giễu tuy thế vẫn biết giữ ở chừng
mực của học vấn và trí tuệ, ngoại trừ một số trường hợp nào đó, nó không
đi quá đà đến đả kích cay cú, “cười cợt người ta mà không thóa mạ
ai”(8). Tuy cùng thời với Nhóm Tự lực cũng có khá nhiều tờ báo tìm nhiều
cách gây cười cho độc giả, nhưng phải đến báo Phong hóa thì cái
cách cười hóm hỉnh thông minh của nó mới đủ hiệu lực biến một xã hội già
nua lụ khụ thành một thế giới vui nhộn trẻ trung. Lần đầu tiên, báo chí
giành được cho mình cái quyền trao đổi công khai mọi chuyện nghiêm
trang nhất, biến nó thành những chuyện để cười, thành một sinh hoạt bình
thường, hợp pháp, lành mạnh, được xã hội thừa nhận. Thử hỏi, báo chí
chúng ta cho đến đầu thế kỷ XXI này đã dám đem những chuyện nghiêm trang
ra trao đổi một cách dung dị từ góc nhìn bình đẳng - đùa vui với nó -
mà không có gì phải e ngại, hay là mỗi khi muốn cười cợt đôi chút vẫn
phải nhìn trước ngó sau xem đã đi đúng “lề đường bên phải” mà quyền lực
dành cho mình? Vậy nên, phải nói trào phúng là đóng góp lớn lao của Tự
lực văn đoàn vào việc dân chủ hóa đời sống xã hội, một đóng góp từ trước
chưa hề có và từ sau 1945 đến nay, báo chí cách mạng cũng dễ đâu đã
theo kịp.
*
* *
Tự
lực văn đoàn đã chấm dứt hoạt động thực tế kể từ sau năm 1940, tính đến
nay đã 68 năm, gần bằng tuổi đời của kẻ viết bản tham luận này. Một
khoảng thời gian không phải là ngắn, kèm theo biết bao sóng gió của một
thời không chút bình yên về mọi mặt. Nhưng có điều rất lạ: càng lùi xa
thì độ sáng của hiện tượng văn học mà ta đang xem xét dường như lại sáng
hơn lên, diện mạo của những nhân vật nòng cốt trong Nhóm Tự lực lại
càng hằn bóng nơi tâm trí chúng ta. Đó là bằng chứng chắc chắn của những
giá trị đã biết cách tự khẳng định, không để cho quy luật sinh tồn đào
thải. Điều may mắn là chúng ta còn một địa chỉ để tìm lại ít nhiều những
dấu vết cũ: mảnh đất Cẩm Giàng, nơi xưa kia từng có trại Cẩm Giàng của
dòng họ Nguyễn Tường. May mắn, bởi vì với tốc độ của công cuộc công
nghiệp hóa ào ạt - và cả lộn xộn - hiện tại trên hầu khắp làng thôn Việt
Nam, giữ được nguyên trạng mảnh đất trại Cẩm Giàng xưa quả thực là hy
hữu. Thiết tưởng, đã đến lúc tỉnh Hải Dương và huyện Cẩm Giàng đón lấy
thời cơ để biến mảnh đất gọi là “cố trạch” ấy thành một di tích lịch sử.
Đó là việc làm hợp lẽ tiến hóa và là niềm mong mỏi không phải chỉ của
Cẩm Giàng hay Hải Dương mà còn của giới văn học và khách tham quan văn
hóa trong cả nước, hơn thế, cả nhiều người Việt ở nước ngoài và nhiều
nhà Việt Nam học thế giới.
N.H.C.
([1]) Lâu nay nhiều sách báo đã dựa vào tư liệu của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) và Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam
(1967), ghi ngày công bố 10 tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là 2-III-1933,
nhưng theo bản tham luận của Nguyễn Huy Cương tại Hội thảo này thì số 87
báo Phong hóa thực ra ra ngày 2-III-1934 (tham luận có kèm theo 3 trang chụp số báo Phong hóa 87). Trong cuốn Phê bình văn học thế hệ 1932 (1973) chính Thanh Lãng đã điều chỉnh lại. Vì vậy, trong tham luận này, chúng tôi dựa vào số liệu của Nguyễn Huy Cương.
(2) Trong cuốn Trần Tiêu, nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn (2006), Vu Gia dựa vào ý kiến của Tú Mỡ trong hồi ký Trong bếp núc của Tự lực văn đoàn (1969) và ý kiến Lê Thị Đức Hạnh trong bài Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn hay không (Tạp chí văn học,
số 5-1990), đã mạnh dạn đưa ra lời khẳng định: Trần Tiêu là thành viên
của Tự lực văn đoàn. Tuy nhiên, có nhiều chứng cứ cho thấy Trần Tiêu
cũng như Trọng Lang... là những cộng tác viên thân tín chứ chưa bao giờ
được kết nạp vào Tự lực văn đoàn như thành viên chính thức. Trong mục từ
“Tự lực văn đoàn” của Từ điển văn học bộ mới (2005), chúng tôi đã không xếp Trần Tiêu vào danh sách các thành viên của TLVĐ.
(3) “Nhà văn không hề xem công việc của mình như là một kế sinh nhai. Đó là một mục đích tự thân, nó không phải là một kế sinh nhai đối với anh ta cũng như đối với người khác, đến nỗi nhà văn hy sinh sự tồn tại của mình cho sự tồn tại của nó nếu cần” (C. Mác. Về văn học và nghệ thuật. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977; tr. 66).
(4) Xem hồi ức của Bùi Hiển về việc gửi tập truyện Nằm vạ cho Nxb. Đời nay và cách đối xử lịch thiệp, tận tình của Tự lực văn đoàn đối với bản thảo của ông, trên tạp chí Cửa Việt số 16, 1992. Chuyển dẫn theo Vu Gia trong Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1995; tr.100-101.
(5) Đáng kể nhất là chùm công trình nghiên cứu của Vu Gia gồm 6 tập: Khái Hưng nhà tiểu thuyết, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1993; Thạch Lam thân thế và sự nghiệp, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1994; Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Sđd; Hoàng Đạo nhà báo - nhà văn, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1997; Trần Tiêu nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn, Nxb. Thanh niên, Bến Tre, 2006; Tú Mỡ -người gieo tiếng cười, Nxb. Thanh Niên, Bến Tre, 2008.
(6) Hegel. Mỹ học. Phan Ngọc dịch. Nxb. Văn học và Trung tâm Văn hóa Đông Tây, Hà Nội, 2005; tr. 499-500.
(7) Vu Gia. Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Sđd; tr. 67.
(8) Vũ Bằng. Những cây cười tiền chiến, dẫn theo Vu Gia, Sđd; tr. 73.
-------------------------------
Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2012/09/moi-ban-oc-download-tiep-phong-hoa-va.html
23/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 2PH22
PH23
PH24
PH25
PH26
PH27
PH28
PH29
PH30
----------------------------------
24/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay Kỳ 3
PH31PH32
PH33
PH34
PH35
PH36
PH37
PH38
PH39
PH40
-----------------------------
25/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 4PH41
PH42
PH43
PH44
PH45
PH46
PH47
PH48
PH49
PH50
-----------------------
26/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 5PH51
PH52
PH53
PH54
PH55
PH56
PH57
PH58
PH59
PH60
---------------------
28/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 6PH61
PH62
PH63
PH64
PH65
PH66
PH67
PH68
PH69
PH70
-------------------------
30/09/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 7PH71
PH72
PH73
PH74
PH75
PH76
PH77
PH78
PH79
PH80
-------------------------
01/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 8PH81
PH82
PH83
PH84
PH85
PH86
PH87
PH87 PhuLuc
PH88
PH89
PH90
-------------------------------
02/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 9PH91
H91Phuluc
H92
H93
H94
H95
H96
H97
H98
H99
H100
----------------
03/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 10
PH101PH102
PH103
PH104
PH105
PH106
PH107
PH108
PH109Lemur
PH110
--------------------
06/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 11PH111
PH112
PH113
PH114
PH115
PH116
PH117
PH118
PH119
PH120
--------------------
06/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 12PH121
PH122TaiXuyenLemur
PH122
PH123
PH124
PH125
PH126
PH127
PH128
PH129
PH130
-----------------------------
09/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 13PH131
PH132
PH133
PH134MuaXuan
PH135
PH136
PH137
PH138
PH139
PH140
--------------------------------
10/10/2012
Mời bạn đọc download tiếp Phong hóa và Ngày nay
Kỳ 14
PH141PH142
PH143
PH144
PH145
PH146
PH147
PH148
PH149
PH150
----------------------------
No comments:
Post a Comment