loạt bài phỏng vấn 4 kỳ by Nguyễn Văn Lục, đăng trên website DCVOnline khởi từ 14-3-2010 đến 17-03-2010
Ngày 14-3-2010
Đúc kết hồ sơ Nghi án văn học: Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam?
Ông Huỳnh Văn Lang (HVL)
(NVL): Ông nghĩ gì về bài viết trên Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng bị “thất sủng” chỉ vì bất đồng chính kiến với ông Nhu và sau đó bị ông Nhu cho người theo dõi?
(HVL): Tôi không có theo dõi Thông Luận. Nhưng nếu quả thật Thông Luận viết ông Đồng phát biểu như thế thì không đúng sự thật. Cho đến cuối năm 1958 hay đầu năm 1959, ông Nhu còn cất nhắc ông Lê Văn Đồng lên làm Bộ Trưởng Canh nông, Cao Xuân Vỹ làm phó thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa.
Bất đồng chỗ nào tôi không thấy.
Sau này, ông Lê Văn Đồng còn được đề cử giữ chức Trưởng phòng tổ chức, chức vụ lãnh đạo đứng hàng đầu của đảng Cần Lao.
Toàn là bịa.
(NVL): Ông Cao Xuân Vỹ giải thích về việc này cho rằng ông Đồng từ chức Bộ Trưởng Canh Nông là vì có vấn đề lem nhem về một vụ cho phép cắt gỗ? Ông nghĩ thế nào?
(HVL): Giữa việc bất đồng chính kiến và việc lem nhem là hai chuyện khác nhau. Thất sủng vì lem nhem thì không đồng nghĩa với bất đồng chính kiến. Đó chỉ là một cách bào chữa.
Về việc ai là tác giả Chính Đề Việt Nam, tôi mong là anh phải làm cho rõ vụ này một lần nữa. Phần tôi khẳng định một lần nữa Lê Văn Đồng không có đủ khả năng viết về chính trị văn hóa nói chi đến những truyện cao siêu như hoài bão, vision.
Tôi sẽ copy cho anh thư ông Nhu gửi cho tôi trong đó, ông giải thích cho tôi đảng Cần Lao là gì? Anh đọc anh sẽ thấy cái style của ông Nhu để in case anh có dịp so sánh sẽ rất dễ dàng.
Tôi nhắc lại là đầu năm 1958, ông Nhu có quyết định tập trung các nhánh Cần Lao lại làm một để ông trực tiếp điều khiển và việc Điều Hành Trung Ương gồm 5 phòng mà Tổng bí thư là ông Ngô Đình Nhu.
‒ Phòng một: Hành Chánh do ông Phạm Văn Nhu, cựu Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng phòng, luật sư Trần Văn Trai phụ tá.
‒ Phòng hai: Nghiên cứu, tuyên huấn do Nguyễn Như Nguyện làm trưởng phòng, phụ tá là Lương Như Úy. (Hai ông này sau đi làm Tỉnh trưởng.)
‒ Phòng 3: Tổ chức do Lê Văn Đồng làm trưởng phòng có Thái Mạnh Tiến phụ tá.
‒ Phòng 4: Lúc đầu do ông Đỗ La Lam và Cao Xuân Vỹ, sau đến lượt tôi, Huỳnh Văn Lang và Bùi Kiến Thành (du học Mỹ về) đảm trách.
‒Phòng 5: Tình báo và kiểm tra do Bác sĩ Trần Kim Tuyến làm trưởng phòng, ông Trần Trung Dung phụ tá.
(NVL): Mới đây nhất, cựu Dân biểu Hạ Nghị Viện Mặc Giao có cho biết là ông đã nhận được một cuốn Chính Đề Việt Nam do chính tác giả Tùng Phong, tức Lê Văn Đống biếu tặng? Ông nghĩ sao về việc này?
(HVL): Tôi phải nói với anh một lần nữa, tôi không muốn nói xấu một đồng chí (Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng). Nhưng một người như anh Lê Văn Đồng không đủ khả năng viết một bài về văn hóa, lịch sử, chánh trị thì làm sao viết cả một cuốn sách như Chính Đề Việt Nam.
Về câu hỏi của anh, tôi xin trả lời là tôi không nhận được cuốn sách Chính Đề Việt Nam in năm 1965.
Ông Cao Xuân Vỹ (CXV)
(NVL): Xin hỏi ông lúc ông Lê Văn Đồng đứng ra in sách Chính Đề năm 1965, sau đó ông Lê Văn Đồng có biếu tặng ông cuốn sách ký tên tác giả Tùng Phong không?
(CXV): Không, tôi không nhận được cuốn sách nào cả.
(NVL): Ông không thấy việc một đồng chí viết một cuốn sách đầu tay lại không biếu tặng một đồng chí là một điều khác thường sao?
(CXV): Lúc bấy giờ, chúng tôi không để ý, thấy ông Đồng có ra được cuốn sách dịch lại tài liệu của ông Ngô Đình Nhu là điều mừng rồi. Ông ấy có để tên Tùng Phong thì cũng không ai thắc mắc gì cả. Chẳng lẽ đề tên ông Ngô Đình Nhu?
(NVL): Trong Thư mục cuốn Chính Đề Việt Nam, có ghi tất cả 46 đầu sách tham khảo, ông thường gần gũi ông Ngô Đình Nhu, ông có thể nói rõ hơn về vấn đề tài liệu này ra sao?
(CXV): Tôi phải nói với anh ông Nhu là một con mọt sách. Trong phòng ông chất đầy sách vở tài liệu.
(NVL): Ông có thể nhớ lại căn phòng làm việc ấy như thế nào? Có lớn lắm không?
(CXV): Không phải chỉ là phòng làm việc mà phải nói đấy là một cái thư viện nhỏ, cơ man nào là sách. Tôi nói riêng anh điều này, ông ấy thường nhờ các sứ quán cung cấp sách vở, tài liệu cho ông ấy. Chẳng hạn, ông ấy yêu cầu lãnh sự của mình ở Hồng Kông cung cấp tất cả tài liệu về Mao Trạch Đông cũng như cộng sản Tàu gửi về cho ông ấy.
Ông Đồng dù có muốn đọc sách, làm sao có đủ sách như thế để đọc?
Ông Nhu là con người thông minh và cần mẫn nên khi có một chính khách nào đến Việt Nam như Quốc Vương Thái Lan chẳng hạn, ông liền yêu cầu Tòa đĐi sứ ở nơi ấy gửi tài liệu của vị chính khách ấy để ông nghiên cứu trước khi Tổng Thống Diệm gặp vị khách.
(NVL): Ông ở gần ông Ngô Đình Nhu như vậy mà lúc chạy sang đây không mang được bất cứ tài liệu nào của ông Ngô Đình Nhu?
(CXV): Không mang được gì cả, ngoài một tập tài liệu khoảng 300 trang ghi chép về chủ thuyết Nhân vị và về Ấp Chiến Lược do ông Nhu thuyết giảng. Nếu muốn, anh mượn lại anh Minh vì tôi đã đưa cho anh Minh sử dụng.
(NVL): Những tiết lộ về thư viện sách của ông Ngô Đình Nhu khá đặc biệt cho việc tìm hiểu ai là tác giả Chính Đề Việt Nam, ngoài ra ông còn điều gì cần nói thêm nữa không?
(CXV): Tôi rất mừng là nay còn có một người như anh để tâm tìm hiểu cuốn Chính Đề Việt Nam này đến nơi đến chốn. Phải nói tôi mừng lắm. Nhất là các anh những người trẻ nên phổ biến rộng rãi tài liệu này.
Tôi nói thêm một chi tiết này nữa; khi mà các ông Đỗ La Lam, Phan Xứng, Lê Văn Đồng đến nhà tôi để rồi quyết định cho in lại năm 1988 thì có xảy ra xích mích giữa ông Đỗ La Lam và ông Lê Văn Đồng.
(NVL): Ông có thể cho biết rõ nguyên nhân sự xích mích giữa hai người nhân vụ tái bản sách?
(CXV): Những bài viết của ông Nhu thì thường được giao cho ông Đỗ La Lam đăng báo Cách Mạng Quốc Gia, vì thế ông Đỗ La Lam là người biết rõ các tài liệu của ông Nhu. Khi biết cuốn sách Chính Đề Việt Nam bị cắt bỏ Chương về Chủ thuyết nhân vị và Ấp Chiến Lược, một vấn đề quan trọng và một vấn đề ấp ủ của ông Ngô Đình Nhu, ông Đỗ La Lam không bằng lòng. Thế là hai người có xích mích với nhau vì ông Lê Văn Đồng đã bỏ chương này ra.
(NVL): Ông còn muốn nói thêm gì về con người của ông Lê Văn Đồng?
(CXV): Phải nói ông Lê Văn Đồng có nhiều mặt. Ông ấy khoe với tôi làm cho C.I.A. trước khi ông Diệm về nước. Sau 1963, lại làm việc cho ông Thiệu. Sau 1975 vẫn làm việc cho C.I.A.
(NVL): Ông có biết rõ ông Đồng làm việc gì cho C.I.A. không?
(CXV): Tôi không hỏi, chỉ nghe ông ấy nói thế thôi.
Ông Lê Châu Lộc (LCL)
(NVL): Xin nhắc lại câu hỏi lần trước, khi ông và ông Lê Văn Đồng gặp nhau ở Thượng Nghị Viện, 1971, ông Lê Văn Đồng đưa cuốn sách Chính Đề Việt Nam tên Tùng Phong hay đưa một tập tài liệu dịch?
(LCL): Ông không tặng sách mà đưa một tập tài liệu và còn nói rõ ràng, đây là tài liệu dịch ra từ bản tiếng Pháp của ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Tôi xin nhắc lại, một tập tài liệu dịch. Nói một cách logique nếu ông Đồng là tác giả thì tại sao mất công viết ra tiếng Pháp rồi nay ngồi dịch lại?
Qua những lần nói chuyện với anh lần trước thì tôi mới nhớ ra trong tập “Kỷ yếu Thượng Nghị Viện”, trong đó có một trang tiểu sử của Lê Văn Đồng. Ông Lê Văn Đồng có ghi là: Chính Đề Việt Nam, Tùng Phong.
Tôi góp ý với anh là phải trả cái công của ông Lê Văn Đồng là người trách nhiệm dịch tài liệu ra tiếng Việt và được coi như một người Éditeur của tập sách ấy. Ông có để Tùng Phong cũng được, vấn đề là nội dung cuốn sách là của ông Nhu. Giả dụ ông Nhu còn sống thì cũng để cho các ông ấy dịch và in ấn ra.
Vấn đề là tập tài liệu đó được phổ biến.
Nay có lẽ điều quan trọng là có người nói truyện “tình nghĩa” với bà Lê Văn Đồng thì hy vọng mọi chuyện sẽ được ổn thỏa.
Ông Trần Xuân Kiên, Thông Luận
Có liên lạc nhiều lần sang Luân Đôn. Nhưng rất tiếc không có ai trả lời điện thoại.
Ông Phạm Văn Lưu
Ông Phạm Văn Lưu, tiến sĩ Sử Học, đại học Monash là một giáo sư đặc biệt lưu tâm nghiên cứu đến nền Đệ nhất Cộng hòa; ông là đồng tác giả các cuốn: Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam 1954-1963, với tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn. Ông còn là tác giả cuốn Biến cố Chính trị Việt Nam Hiện đại.
Và ông cũng là người có bài viết liên quan đến cuốn Chinh Đề Việt Nam. Rất tiếc cho đến nay, người viết chưa liên lạc được vì anh hiện ở xa.
Ông Đỗ La Lam
Ông Đỗ La Lam là nhân vật hàng đầu có liên hệ gần gũi với ông Ngô Đình Nhu trong các hoạt động chính trị. Theo lời cô Phương Thảo, con gái của ông. Ông năm nay 86 tuổi, ở Louisana, cách chỗ ông bà Lê Văn Đồng 55 dặm. Ông có một số tập Chính Nghĩa mà cô Phương Thảo hứa sẽ gửi cho người viết. Hồi còn ở Việt Nam, trước 1954, ông là giáo sư trung học ở Đà Lạt vì thế quen biết ông Ngô Đình Nhu. Khoảng năm 1950, ông đã theo ông Nhu đi các nơi hoạt động, đặc biệt ra Bắc mở các lớp về Xã Hội Học cho một số cán bộ, các sinh viên Hà Nội. Khi ra tờ báo Xã Hội thì ông Ngô Đình Nhu giao cho ông Đỗ La Lam trông coi. Sau đó, ông Đỗ La Lam làm chủ nhiệm tờ Cách Mạng Quốc Gia cho đến năm 1963.
Theo ông Cao Xuân Vỹ cũng như ông Huỳnh Văn Lang, ông Đỗ La Lam là người nắm giữ nhiều tài liệu của ông Ngô Đình Nhu. Với sự giúp đỡ của con rể và đặc biệt cô Phương Thảo ông đọc tất cả các bài phỏng vấn (của người viết – NVL, PG chú) liên quan đến Chính Đề Việt Nam; đã đọc xong, nhưng ông vẫn từ chối cho phỏng vấn. Tôn trọng quyết định của ông, người viết cũng nhờ các ông Cao Xuân Vỹ và Huỳnh Văn Lang thuyết phục ông Đỗ La Lam tiết lộ cho biết những chi tiết liên quan đến cuốn Chính Đề Việt Nam.
Nếu có kết quả gì, sẽ xin công bố.
Ông Đỗ Như Điện (ĐNĐ)
(NVL): Có thể coi ông là người thuộc thế hệ “sau Ngô Đình Diệm”, không có liên hệ trực tiếp với chế độ độ Đệ Nhất Cộng Hòa, và lại là người năng động trong mọi hoạt động của cộng đồng hải ngoại. Tôi muốn trao đổi với ông một lần nữa về cuốn sách Chính Đề Việt Nam, đặc biệt về việc tái bản cuốn sách này ở hải ngoại.Vậy, thưa ông nghĩ gì về những ý kiến giữa hai phía về cuốn sách?
(ĐNĐ): Thưa anh, có điều này phải trình bày với anh là người ta nói nhiều về ai là tác giả Chính Đề Việt Nam mà đã quên một điều tối ư quan trọng mà theo tôi thì nếu hiểu được điều này thì tìm ra được câu trả lời cho bài toán của vấn đề.
(NVL): Thưa đó là điều gì?
(ĐNĐ): Đó là trường hợp các ông Cao Xuân Vỹ, Đỗ La Lam, Phan Xứng và Lê Văn Đồng. Họ đều là người của một đảng đang cầm quyền. Một đảng có kỷ luật đảng, có tổ chức, có phân công, có trách nhiệm hoạt động cho một mục đích chung. Họ không quyết định một mình, họ làm theo chỉ thị của đảng.
Sau 1963, đảng ấy bị tan rã, lãnh tụ bị sát hại. Lúc đó chắc chắn có nhiều người trong số những vị ấy gặp khó khăn, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Sau một thời gian ngắn họ đã liên lạc lại với nhau. Sự kiện ông Đồng cho in cuốn Chính Đề Việt Nam tại nhà in Đồng Nai của ông Trương Vĩnh Lễ, tôi cho là một dấu hiệu tốt.
Trên thực tế, Trong Quốc hội thời Đệ Nhất Cộng Hoà không có dân biểu thuộc Cần Lao Nhân vị Cách mạng Đảng (Hội CLNVCMĐ, chính danh nhưng bí mật trong tổ chức.) Lúc đó đa số dân biểu thuộc một tổ chức ngoại vi của CLNVCMĐ, “Phong trào Cách mạng Quốc gia” mà ông Ngô Đình Diệm là thủ lãnh danh dự. PTCMQG có liên quan chặt chẽ với “Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia”. Người lãnh đạo của CLNVCMĐ là ông Ngô Đình Nhu và cũng chính ông Nhu chỉ đạo PTCMQG Nam phần; Ở Cao nguyên và miền Trung, PTCMQG nằm trong tay ông Ngô Đình Cẩn.
--------------------------------------------------------------------------------
PG chú: đây là dòng chú thích ảnh. Bức ảnh, tôi sẽ cố tìm và publish sau
DCVOnline Trích dịch “The Pentagon Papers”, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960”, Section 2, “Failure of the geneva settlement”, Boston: Beacon Press, 1971.
Giấy phép hoạt động của Hội “Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng” (02/09/1954). Nguồn: Tài liệu của Chính Đạo trong ‘Việt Nam Niên biểu’, Tập B
--------------------------------------------------------------------------------
(NVL): Ý kiến của ông có thể mở ra một câu trả lời ngoài những bằng chứng pháp lý của tác giả cuốn sách?
(ĐNĐ): Vâng, có thể là như vậy. Trong các ông ấy, không ai lưu tâm đến vấn đề ai là tác giả quyền sách mà chỉ tha thiết làm cách nào để nội dung cuốn sách được “sống lại” và tư tưởng của người lãnh đạo của họ được lưu truyền. Tôi đọc qua các ý kiến của họ trong bài phỏng vấn của anh, tôi cảm thấy được điều đó một cách xác tín.
(ĐNĐ): Nhưng qua bài phỏng vấn này mà anh đã cho tôi coi lại, trước khi trả lời anh, tôi có một thắc mắc là, Có phải anh “gài bẫy” họ trong câu hỏi ‘Có nhận được sách tặng của ông Lê Văn Đồng hay không?’ Và cả ba ông đều trả lời là không nhận được. Anh muốn tìm một ý nghĩa nào đó trong việc không nhận được sách này?
(NVL): Xin cải chính là tôi không có ý “gài bẫy” như anh suy nghĩ. Nhưng tôi cố gắng thực hiện đúng vai trò của một người làm phỏng vấn. Vì thế, khi nhận được tin ông Mặc Giao nói có nhận được sách tặng, tự nhiên trong đầu tôi nảy sinh ra câu hỏi. Vì đã nói chuyện hằng nhiều giờ với các nhân vật trong bài phỏng vấn trước và, không thấy ai nói về chuyện sách tặng này nên tôi muốn tìm hiểu thì đúng hơn.
Tôi lấy một vài trường hợp cụ thể để minh chứng cho rõ hơn và sẽ phải dài dòng một chút. Chẳng hạn khi ông Lê Châu Lộc nói có được đọc tài liệu này do ông Võ Văn Hải đưa cho đọc. Trong khi đó, tôi biết là tập tài liệu của ông Nhu bằng tiếng Pháp, viết tay đã được ông Cao Xuân Vỹ trao cho ông Lê Văn Đồng để dịch. Tôi bèn hỏi một vài câu hỏi hầu như “vô tội vạ” để xem anh Lê Châu Lộc trả lời như thế nào?
Tôi đã hỏi: “tập tài liệu anh đọc, thưa anh, là bản viết tay hay bản đánh máy?” Ông Lê Châu Lộc trả lời là bản đánh máy. Nếu ông Lộc trả lời tôi chính mắt ông ấy đọc tập tài liệu viết tay, lúc đó tôi sẽ lý giải ra sao về việc có hai tập tài liệu viết tay? Và cứ bằng cách đó, tôi đã dò xét độ trung thực “tính chính xác” của ông Lê Châu Lộc trong vài trường hợp khác. Cũng cách thức như thế tôi đặt ra những câu hỏi cho các ông Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Văn Minh, Cao Xuân Vỹ.
Tôi phải thú nhận, tôi “thua cuộc”. Chẳng hạn tôi dùng cùng một câu hỏi, hỏi họ nhiều lần để thử trí nhớ của họ, hoặc hỏi mọi người cùng một câu hỏi xem họ trả lời ra sao? Rồi so sánh những câu trả lời của họ như trường hợp ông Huỳnh Văn Lang, một người có thói quen giữ tài liệu và ông Cao Xuân Vỹ, chỉ theo trí nhớ. Nhiều điều họ trả lời ăn khớp với nhau. Riêng ông Tôn Thất Thiện có đôi chút khác biệt trong ba bài viết của ông. Phần ông Cao Xuân Vỹ có một đôi chỗ hơi lấn cấn về vấn đề trí nhớ.
Nhưng nói chung, tôi phải xác định điều này: Họ là những nhân vật có tính cách chứng nhân. Những điều họ nói ra, độ trung thực là rất cao.
Tin hay không tin là tùy mỗi người đọc thôi. Cứ lý luận có thể không tin. Nhưng trực diện với những điều họ xác tin thì không thể không tin họ. Tôi cảm thấy bất lực vì có thể có nhiều người sẽ không chấp nhận lý lẽ của họ.
(NVL): Bây giờ xin trở lại chuyện xuất bản lần thứ 1, 1965 và chuyện tái bản ở Hải ngoại 1988 và 2009, thưa anh, anh có nhận xét gì về ba lần xuất bản này?
(ĐNĐ): Hai lần xuất bản đầu là quan trọng vì ông Lê Văn Đồng còn sống và có ý nghĩa khác nhau. Lần đầu coi như tự ý ông Lê Văn Đồng quyệt định in ấn. Và quan trọng là cho biết chính ông là tác giả chính đề Việt Nam trong lời ký tặng anh Mặc Giao.
Lần tái bản ở hải ngoại thì khác. Có sự họp bàn của một số người trong đó tôi biết 4 người là các ông Đỗ La Lam, Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng và Phan Xứng. Lần xuất bản này mang tính chất “Đảng” rõ rệt. Tên bút hiệu Tùng Phong chỉ là bề ngoài, có thể tên gì cũng được.
Tùng Phong được hiểu là đại diện tiếng nói của Đảng. Đảng núp sau Tùng Phong.
(NVL): Xin ông cho biết đã căn cứ vào đâu để quả quyết như thế?
(ĐNĐ): Tôi đã gửi cho anh Lời Nhà xuất Bản và lá thư của ông Phan Xứng xin anh đọc kỹ lại. Căn cứ vào hai chứng liệu này, nói đến tác giả là điều không cần thiết. Ngay cho dù ông Nhu hay ông Đồng viết thì đây vẫn là tài liệu chung của Đảng.
Đảng đứng trên cá nhân trong trường hợp này. Đây là tài sản trí tuệ của Đảng Cần Lao mà thôi.
(NVL): Vâng tôi sẽ đọc kỹ tất cả tài liệu. Xin cám ơn ông trong việc đóng góp ý kiến này. Tuy nhiên, trên thực tế với bằng cớ rõ ràng căn cứ vào chữ ký Tùng Phong, rồi chữ ký Lê Văn Đồng, cùng một tuồng chữ, ghi rõ ngày tháng, ghi rõ giấy phép xuất bản của bộ Thông Tin. Điều đó xác nhận Tùng Phong hay Lê Văn Đồng là tác giả cuốn sách Chính Đề Việt Nam. Thẩm quyền tinh thần cũng như pháp lý về cuốn sách xác định ông Lê Văn Đồng là tác giả.
(ĐNĐ): Tôi không phủ nhận điều này, tuy nhiên đối với một người đã chết như ông Ngô Đình Nhu, nếu muốn lợi dụng tình thế lúc bấy giờ để hợp thức hóa một một tài sản trí tuệ của người khác thì quả thực không khó khăn gì.
Cá nhân tôi tin rằng ông Lê Văn Đồng có một mối tương giao rất thân thiết và sâu đậm với ông Ngô Đình Nhu và được sự tin cẩn như người “trong cuộc” “người nhà” nên được ủy thác giữ gìn tài liệu nghiên cứu này. Và có thể ông Lê Văn Đồng bắt buộc phải đứng tên để có thể dễ dàng cho việc xin phép xuất bản.
Có một điều khi tiếp xúc với các vị tiền bối thì hầu như tất cả chỉ muốn giữ vững tinh thần yêu nước, thương dân, nung nấu ý chí, tìm phương cách loại trừ cộng sản để đưa dân tộc tiến lên. Tóm lại như trong Chính Đề Việt Nam thì đặt vấn đề tương lai lâu dài hàng trăm năm tới của cả dân tộc chứ không phải hạn hẹp trong một biến cố hay giai đoạn lịch sử hay trong một chính đảng.
Đó là điều làm tôi đặc biệt bỏ công nghiên cứu tài liệu này.
(Còn tiếp)
15/3/2010
Mặc Giao, tên thật là Phạm Hữu Giáo, dân biểu Hạ Nghị Viện 1967-1971. Ông đảm nhận chức vụ Tổng Thư ký Hạ Nghị Viện. Sau đó, ông làm việc ở Giám Sát Viện. Trong giai đoạn Hòa Đàm Ba Lê lần thứ hai, ông được cử tham gia trong phái đoàn Việt Nam mà trưởng phái đoàn là Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên. Cũng trong giai đoạn này, ông kiêm nhiệm làm việc bên tòa đại sứ VNCH với chức vụ Sứ Thần, chỉ đứng sau đại sứ, tại Ba Lê cho đến năm 1975.
(NVL): Thưa ông cho biết làm sao anh có được tác phẩm Chính Đề Việt Nam, in năm 1965, nguyên bản?
(MG): Tôi nhận được cuốn sách gửi đến văn phòng Hạ Nghị Viện qua đường bưu điện. Trong sách ở trang đầu có ghi: Tác giả kính tặng, ký tên Tùng Phong và dấu triện. Hai trang sau có ghi: Thân tặng ông Mặc Giao, Dân Biểu quốc hội. Sài Gòn ngày 18/1/1968. Lần này có chữ ký là Lê Văn Đồng. Hai tuồng chữ đều giống nhau và cũng một bút mực.
(NVL): Khi nhận được cuốn sách, anh có biết tác giả Tùng Phong chính là Lê Văn Đồng không ạ?
(MG): Tôi hoàn toàn không biết; chữ ký Lê Văn Đồng không rõ nên không cho phép tôi kết luận là Tùng Phong cũng là Lê Văn Đồng. Mãi sau này dò la mới biết Tùng Phong là Lê Văn Đồng.
(NVL): Ông có thể nói rõ hơn bằng cách nào anh còn mang theo và giữ được cuốn sách sau gần nửa thế kỷ mà nay bìa sách đã bị ố vàng?
(MG): Sau khi chuyển sang làm sứ thần tòa đại sứ Việt Nam ở Ba Lê, tôi được phép mang vợ con theo, đồng thời chuyển một số đồ đạc và một số sách vở từ Việt Nam sang Ba Lê. Trong đó còn giữ được cuốn sách Chính Đề Việt Nam.
(NVL): Thật hi hữu. Nhưng thưa anh, với vai trò Tổng Thư ký Hạ Nghị Viện, ông có dịp gặp ông Lê Văn Đồng ở bên Thượng Viện và trao đổi về cuốn sách Chính Đề Việt Nam của tác giả không?
(MG): Với vai trò của tôi ở Hạ Nghị Viện, tôi đã có nhiều dịp gặp ông Lê Văn Đồng. Nhất là các buổi họp với các ông Nguyễn Văn Ngân, Hoàng Đức Nhã, tướng Nguyễn Khắc Bình với một số nhân vật chính trị trong đó có ông Lê Văn Đồng để bàn về những vấn đề ngoài quốc hội như cải tổ hành chánh, hay việc chuẩn bị thành lập Đảng Dân Chủ. Nhưng tôi không bao giờ nghe ông Lê Văn Đồng đề cập đến cuốn Chính Đề Việt Nam hay tự xác minh mình là tác giả cuốn sách đó.
(NVL): Ông hiểu thế nào về việc “kín tiếng” này?
(MG): Tôi chỉ nhắc lại sự việc lúc ấy nó là như thế. Nhưng không thể đưa ra lời nhận xét nào cả.
(NVL): Viết một cuốn sách, trân trọng tặng một người ít tuổi hơn cả thế hệ, nhưng không hề đề cập tới nội dung cuốn sách và cũng không tự “bày tỏ” về mình, ông nghĩ thế nào về sự kiện này?
(MG): Thời điểm lúc đó, tôi không để ý tới chuyện đó, cũng không thắc mắc gì về những tiểu tiết ấy. Bây giờ anh hỏi thì không có sẵn sàng câu trả lời. Tôi nhắc lại, tôi không lưu tâm gì lúc được tặng cuốn sách. Người ta cho cuốn sách với tên hiệu Tùng Phong. Mình chẳng biết Tùng Phong là ai cả. Mình nhận như thể một hảo ý của tác giả. Chỉ có vậy.
(NVL): Ông Đồng có bày tỏ quan điểm hay phê phán về nền Đệ nhất Cộng hòa, về ông Nhu, ông Diệm hay không, thưa ông?
(MG): Theo tôi thì có vẻ như ông ấy muốn né tránh đề cập đến Đệ nhất Cộng hòa. Không biết có phải do mặc cảm quá khứ hay không? Ông không muốn nói nhiều. Cũng có đôi lúc ông đề cập đến ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, nhưng với sự tôn kính (respect).
(NVL): Qua những cuộc gặp gỡ và nhiều lần tiếp xúc với ông Lê Văn Đồng, ông có thể có nhận xét gì về con người, về sự hiểu biết và ngay cả những viễn kiến hoài bão chính trị của ông ấy không?
(MG): Theo nhận xét của riêng cá nhân tôi, ông Lê Văn Đồng là người ít nói, có tư tưởng, có lý luận, tương đối thâm trầm. Nhưng tầm hiểu biết của ông giới hạn trong những vấn đề cụ thể phải giải quyết ở vai trò của một Thượng Nghị sĩ. Ông không có đi xa hơn những giải pháp trước mắt. Ông không hề bàn đến những vấn đề đường lối phát triển đất nước, vấn đề cộng sản và những giải pháp đề ra. Ông cũng không thể đưa ra những phương hướng chỉ đạo của chính quyền quốc gia cụ thể phải làm gì. Nói chung, không thấy ông phát biểu gì tương tự viễn kiến chính trị của một nhà lãnh đạo.
(NVL): Có phải giữa một ông Lê Văn Đồng trong khi làm việc và những phần khảo luận và viễn kiến chính trị trong cuốn sách của ông tác giả Tùng Phong (Lê Văn Đồng) có một khoảng cách?
(MG): Theo tôi nghĩ, có một khoảng cách giữa môt nhà làm chính trị và một nhà nghiên cứu chính trị. Giữa một Lê Văn Đồng nghị sĩ và một Tùng Phong, nhà nghiên cứu đường lối chính trị trong Chính Đề Việt Nam.
(NVL): Trong cuốn Chính Đề Việt Nam, ngoài bút hiệu và chữ ký nhận mình là tác giả, ông Lê Văn Đồng có viết một Lời nói đầu, hay phi lộ, hay viết xong ngày tháng mấy, hay viết tặng ai đó như tặng các chiến hữu, hay một cái gì tương tự để chứng tỏ rằng ông là tác giả hay cắt nghĩa tại sao ông viết cuốn Chính Đề như thông thường các tác giả thường làm?
(MG): Tôi đã xem lại rồi anh ạ. Rất tiếc, không có Lời nói đầu, tác giả đi thẳng vào cuốn sách.
(NVL): Về mặt pháp lý, chính thức, anh có thấy rằng Tùng Phong, Lê Văn Đồng là tác giả Chính Đề Việt Nam?
(MG): Tôi đồng ý với anh tất cả nếu chỉ căn cứ vào cuốn sách mà tôi hiện đang có trong tay. Tùng Phong, chính là tác giả Chính Đề Việt Nam. Nhưng nay, nghĩ lại, rà xét lại mọi yếu tố liên quan. Tôi cảm thấy có điều gì chưa ổn từ đó cho phép tôi có những “nghi ngờ” bởi vì tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc với con người thật của Lê Văn Đồng với tư cách Nghị sĩ và nay với tư cách nhà nghiên cứu chính trị tên Tùng Phong.
Sự nghi ngờ ấy, anh cứ coi như một phản xạ gần bản năng mặc dầu không lý giải được bằng lý luận. Nói riêng với anh, trong anh em lúc bấy giờ đều dè dặt với ông Lê Văn Đồng, vì người ta nghi ngờ ông còn cộng tác với một thế lực khác không phải cộng sản.
(NVL): Xin được nói một câu như kết luận bài phỏng vấn này là người viết bài này cũng như các độc giả đang theo dõi bài phỏng vấn coi tài liệu anh có được về cuốn Chính Đề Việt Nam như một tài liệu quý giá giúp đưa đến một một hướng mới về ai là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Một lần nữa, thay mặt độc giả, cám ơn ông.
(còn tiếp)
16-03-2010
(http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7328)
Lần xuất bản đầu tiên 1965
Trong lần xuất bản này in tại nhà in Đồng Nai của ông Trương Vĩnh Lễ, một nhân vật thân cận với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, từng là Chủ Tịch Quốc Hội.
Ông Mặc Giao còn giữ được nguyên bản sách Chính Đề Việt Nam xuất bản lần đầu do ông Tùng Phong, tức Lê Văn Đồng ký tặng. Trong trang 1, ông Tùng Phong viết rõ ràng, Tác giả kính tặng.
Sau đó, ông Tùng Phong viết thêm một lần nữa mà nội dung như sau: Thân tặng ông Mặc Giao, Dân biểu Quốc Hội. Sàigòn ngày 18 tháng 1, 1968.
Trên bìa sách cũng như trên gáy sách có ghi chú: Sàigòn, Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 1965.
Bên trong có ghi giấy phép của Bộ Thông tin giấy phép đề ngày 10-3-1965. Triển hạn ngày 14-6-1965. Tác giả giữ bản quyền 1965.
Căn cứ vào những dữ kiện trên thì quả thực không còn gì phải bàn cãi nữa, vì sách có giấy phép, có tên tác giả và có chữ ký tác giả đề tặng hẳn hoi.
Nhưng trong lần xuất bản đầu tiên, người viết đã hỏi đi hỏi lại ông Mặc Giao kiểm soát dùm xem có Lời nhà xuất Bản hay Vài lời mở đầu của chính tác tác giả không? Nếu có thì việc xác minh ai là tác giả đích thực của Chính Đề Việt Nam được dễ dàng hơn nhiều. Ông Mặc Giao cho biết không có lời của nhà xuất bản cũng không có lời mở đầu theo thông thường của một cuốn sách trong giai đoạn thập niên 1960-1970.
Thật đáng tiếc.
Phần ông Đỗ Như Điện đã đưa ra một nghi vấn là đối với một người đã chết như ông Ngô Đình Nhu thì quá dễ dàng để một người nào đó tự nhận mình là tác giả khi nắm trong tay tập tài liệu do mình dịch và đưa in ấn, xin giấy phép một cách chính thức?
Lần tái bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ, năm 1988
Tuy nhiên, trong lần tái bản lần này, có thêm một số dữ kiện nổi bật có thể là yếu tố quyết định bắt buộc phải đặt lại vấn đề ai là tác giả Chính Đề Việt Nam một lần nữa.
Trong lần tái bản 1988, có đầy đủ lời nhà xuất bản ghi rõ công trình biên soạn này do đâu mà có với lời lẽ khẳng định như sau:
Cộng thêm vào đó, lá thư của ông Phan Xứng gửi các chiến sĩ một lần nữa gián tiếp khẳng định tập tài liệu này thuộc tài sản trí tuệ của Đảng Cần Lao hơn là của bất cứ cá nhân nào.
Cũng theo ông Cao Xuân Vỹ cho biết, việc tái bản lần thứ hai do quyết định và đồng ý “do 4 người chúng tôi và được giao cho ông Lê Văn Đồng và Phan Xứng tiến hành việc tái bản.”
Nếu ông Lê Văn Đồng là tác giả tập Chính Đề Việt Nam thì tại sao không lên tiếng cải chính trong lần tái bản này?
Tại sao ông im lặng? Tại sao ông chấp nhận một cách mặc nhiên việc biên soạn là do một nhóm chiến sĩ biên tập?
Sự im lặng đồng nghĩa việc xóa bỏ thẩm quyền tác giả là Lê Văn Đồng?
Lá thư nhà xuất bản cho thấy ông Lê Văn Đồng mặc nhiên chấp nhận tư cách thành viên của nhóm 4 người.
Và phải chăng, lần tái bản với lời nhà xuất bản xác định nhóm 4 người mới là quyết định chung thẩm ai là tác giả đích thực của tập sách Chính Đề Việt Nam?
Cả hai lần xuất bản đều có giá trị pháp lý. Nhưng theo nguyên tắc về luật, lần xuất bản thứ hai có giá trị hồi tố đối với lần thứ nhất. Có nghĩa là giá trị pháp lý của lần đầu không còn hiệu lực và phải công nhận đây không phải là cuốn sách do một người biên soạn mà do nhiều người biên soạn.
Lần xuất bản tập Chính Đề Việt Nam lần thứ ba, 2009 mà ông Đỗ Như Điện mới gửi cho người viết, ngoài bìa sách vẫn để tên hiệu Tùng Phong với lời xác nhận minh bạch và rõ ràng hơn như sau:
Lời nói đầu cũng nhắc lại việc in ấn năm 1988 như sau:
Tự thâm tâm, người viết bài này hy vọng phía bà Đồng, theo như chủ bút Thông Luận (ông Trần Xuân Kiên) cho biết, bà Đồng sẽ tiến hành vụ kiện ra trước tòa án Hoa Kỳ và như thế bà Lê Văn Đồng có cơ hội minh chứng trước tòa án rằng ông Lê Văn Đồng mới đích thực là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Mong là bà Lê Văn Đồng thực hiện điều này để mọi việc được sáng tỏ.
Người viết cũng bày tỏ hy vọng Thông Luận một lần nữa, vì công ích, công khai hóa vấn đề xác nhận ông Lê Văn Đồng là tác giả Chính Đề bằng văn bản tài liệu.
Trong khi chờ đợi, người viết xin đưa ra một số lập luận dựa trên các sự việc xét ra như một tiền đề cho một kết luận khả thể.
Người viết xin minh định là trong những điều kiện lịch sử của Việt Nam bị đô hộ và chiến tranh miên tục, đòi hỏi một văn bản “hạt nhân” rõ ràng và minh bạch không phải là một điều dễ dàng. Rất nhiều tác phẩm văn học, ngay cả sử học trở thành khuyết danh hay vô danh, hoặc mang nhiều nhan đề khác nhau này còn để lại nhiều dấu hỏi nhức đầu cho người đời sau.
Tác phẩm truyện Kiều, Chinh Phụ ngâm khúc, Thơ bà Huyện Thanh Quan, thơ của Hồ Xuân Hương,.. đều có những nghi vấn văn học chưa được sáng tỏ.
Lấy tỉ dụ cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí là công trình của một người hay là nỗ lực của cả dòng họ Ngô Thì? Ngày nay không có cách nào có bản thảo “nguyên thủy” của Hoàng Lê Nhất Thống Chí còn tồn tại. Và người ta phải bằng lòng với 14 bản chép tay mang nhiều nhan đề khác nhau như: An Nam Nhất Thống Chí, Hậu Lê Nhất Thống Chí.
Việc khai quật đi tìm lại ai là tác giả khuyết danh vì thế phải dựa trên nhiều yếu tố như địa lý, sử học, ngôn ngữ học và ngay cả nội dung của cuốn sách để tìm hiểu.
Những nguyên tắc trên cũng sẽ được áp dụng để người viết tìm hiểu Ai Là Tác Giả cuốn Chính Đề Việt Nam?
Như đã nói ở trên, mặc dầu tập sách Chính Đề Việt Nam đã có ấn bản in đầu tiên, với tên tác giả ngoài bìa. Nhưng tập sách này có nhiều vấn đề tồn nghi vượt ra khỏi khuôn khổ của chính tác giả.
Nguồn gốc lãnh tụ đảng của tập sách tài liệu
Vấn đề chính là họ ở trong một tổ chức, là những đồng chí, là những đảng viên trong một đảng chính trị với một lãnh tụ mà tầm nhận thức của vị lãnh tụ này có thể trở thành phát ngôn viên về các đề cương chính trị của đảng qua rất nhiều bài tham luận của vị lãnh tụ này.
Ông Đỗ Như Điện qua bài phỏng vấn đã muốn nhấn mạnh về điểm này.
Nhưng một lúc nào đó, quyền uy trong kỷ luật tổ chức Đảng bị phá vỡ phải chăng là yếu tố then chốt gây ra những rắc rối về tác quyền của cuốn sách này? Nếu như người thủ lãnh của đảng vẫn còn sống có thể ngày hôm nay chúng ta không phải mất công cho sự tranh tụng này.
Bởi vì hầu như thế giá hiểu biết chính trị của vị lãnh tụ này là điều không cần bàn cãi nữa và không thể bàn cãi. Ai ai cũng biết như vậy, cả người trong đảng lẫn ngoài đảng.
Danh tiếng đồn đại ra bên ngoài về sự quảng bác kiến văn của ông Ngô Đình Nhu vượt ra ngoài khuôn khổ của Đảng đến dân chúng ai cũng biết điều đó.
Người ta có thể chê trách ông Nhu thâm hiểm, độc đoán, nhiều thủ đoạn đến người Mỹ cũng lo ngại tìm cách hất cẳng ông.
Nhưng chưa một ai nghi ngờ về sự quảng bác kiến văn của ông.
Vì thế nên mới có nhiều người có liên hệ trực tiếp đến sự ra đời của tập sách này đã lên tiếng phản biện về tính chính danh của tác giả.
Người viết nghĩ rằng không thể không xét đến những tiếng nói tranh biện ngoài văn bản ấy.
Khi bài đăng trên Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng xác nhận chủ quyền tác giả của mình thì đã có sự lên tiếng đồng loạt của tất cả nhân sự có liên hệ.
Trong những tài liệu được phát tán trên Internet, người ta thấy xuất hiện bút hiệu Tùng Phong, bên cạnh đó mở ngoặc Ngô Đình Nhu trong Chính Đề Việt Nam.
Để bảo đảm uy tín của vị lãnh tụ, lần xuất bản thứ ba, họ đã công khai đề tên ông Ngô Đình Nhu và chấp nhận có thể có những phiền toái xảy đến.
Trong hai cuốn DVD do hội Ái Hữu người Việt Quốc Gia hải ngoại phát hành có Title: Hội Luận Chủ Quyền Quốc Gia Việt Nam và Nguy cơ Trung Cộng, các ông Lê Tinh Thông, người giới thiệu chương trình, Nguyễn Xuân Nghĩa, người điều hợp chương trình, các thuyết trình viên như Nguyễn Ngọc Tấn, Đỗ Như Điện, Ngô Đức Diễm đều mặc nhiên coi Chính Đề Việt Nam là của ông Ngô Đình Nhu.
Trong lời giới thiệu buổi Hội luận 01-11-2009, ông Lê Tinh Thông đã khẳng định, “Tập tài liệu này do ông cố vấn Ngô Đình Nhu soạn thảo vào khoảng năm 1960.”
Cũng trong Đặc San 2009: Chính Đề Việt Nam, Một viên ngọc quý một lần nữa coi Chính Đề Việt Nam mà tác giả không ai khác là ông Ngô Đình Nhu.
Trong DVD: Ngày Độc lập Quốc gia Việt Nam, các vị thuyết trình như ông Nguyễn Văn Châu, đại học Sorbonne, nhất là ông Phạm Văn Lưu trong phần trả lời của các tham luận viên, đại học Monash, Úc và ông Phạm Bình Thuận cũng cùng một quan điểm như các vị trên.
Ông Phạm Bình Thuận đã phân tích trình bày một cách minh nhiên nội dung cuốn Chính Đề Việt Nam, tác giả Ngô Đình Nhu.
Mặc dầu có sự nhìn nhận chính thức như thế, nhưng tất cả những vị mà người viết đã phỏng vấn đều sẵn sàng trả lời những thắc mắc và hợp tác hỗ trợ mục đích tìm hiểu rõ ai là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Cho nên không thể võ đoán nói rằng có sự toa rập, đồng lõa để hại uy tín của ông Đồng được.
Cả ông Huỳnh Văn Lang lẫn ông Cao Xuân Vỹ đều không muốn nêu tên ông Lê Văn Đồng như một cơ hội để bêu xấu.
Theo ông Huỳnh Văn lang, “chúng tôi làm thế để làm gì đối với những người trên dưới 80 tuổi.” Ai cần cái danh vị gì ở cái tuổi ấy?
Nào phải một người mà tất cả, trừ ông Đỗ La Lam nhất định im lặng, tránh mọi tiếp xúc với người viết bài này, trong đó hẳn là do sự giận lẫy đến tránh mặt nhau, không muốn liên lạc nữa giữa ông Đỗ La Lam và ông Lê Văn Đồng.
Có hai người mà người viết tiếp xúc được thì xác nhận có một văn bản viết tay bằng tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu mà bản Chính Đề Việt Nam chỉ là bản dịch. Hiện nay, truy tìm được bản viết tay tiếng Pháp là một điều hầu như vô vọng.
Về vấn đề này, trong khi tâm sự với người viết sáng nay, lần chót, ông Cao Xuân Vỹ có than về vấn đề nhân cách của ông Lê Văn Đồng với tư cách một đảng viên.
Xin ghi lại, theo ông Vỹ, ông Đồng Vừa là người thân tín có uy tín trong đảng Cần Lao của chế độ cũ, sau này lại trở thành thân tín của ông Thiệu trong nhóm người thành lập đảng dân chủ của ông Nguyễn Văn Thiệu.
Và nếu ông Đồng quả thực có tiết lộ cho Thông Luận biết lý do bị thất sủng hoàn toàn không đúng sự thật thì theo ông Vỹ đây là điều đáng buồn. Ông Huỳnh Văn Lang cũng tỏ ra bực bội về vấn đề này.
Khi ra khỏi tù, ông Vỹ có hội họp anh em cũ lại thành lập nhóm Cộng Hòa Đại Chúng, chỉ có mình ông Lê Văn Đồng từ chối không tham gia. Rồi lại vừa làm cho C.I.A., sau 1975 cũng vẫn làm cho C.I.A. Ông Vỹ trách là trách cái tư cách giữa một đảng viên với một đảng viên. Còn việc cá nhân ông Lê Văn Đồng làm việc cho ông Thiệu không có gì đáng nói cả.
Có một số sự trùng hợp đến ngạc nhiên
Có một số sự kiện tuy rời rạc, có vẻ như vô thưởng vô phạt, nhưng nếu lắp ráp lại thì có thể có một nhận định tổng quan và tìm ra được yếu tố trổi bật (facteur prédominant) như một bằng chứng pháp lý trong những yếu tố đơn lẻ ấy:
Chẳng hạn, cuốn sách này (Chính Đề Việt Nam) không được in trước 1963 mà được in 1965, hai năm sau chính biến 1/11/1963.
Dĩ nhiên, mối vấn nạn nêu ra ở đây đều có giá trị lưỡng tính: có người đồng ý và có người khác phản bác.
Nhưng việc nêu ra là cần thiết.
Sao có sự trùng hợp oái ăm thế! Nó giống như trường hợp một nghi can có mặt ở phạm trường, đúng lúc, đúng địa điểm, có quan hệ quen biết, có nhân chứng, có sụ ghi nhận dấu vết tay, dấu vết để lại như tàn thuốc lá.
Chỉ có một điều, ông không bao giờ là tác giả vụ giết người. Vì ông không biết bắn súng hay ngón tay ông cụt mất ba ngón chính, hay ông chỉ biết xử dụng tay trái..hay mắt ông bị chứng quáng gà, v.v…
Sau cái chết của ông Diệm và ông Nhu thì có sự ra đời của cuốn sách mang bút hiệu Tùng Phong mà nhiều người cho là của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Nếu sách do ông Đồng là tác giả thì việc in trước in sau 1963 không thành vấn đề.
In xong, mặc dầu không bán được, nhưng không một đồng chí thân cận nào của tác giả đã nhận được cuốn sách. Ngay như ông Lê Châu Lộc đã được chính tác giả tặng một tập Chính Đề Việt Nam cũng vẫn chỉ là tập tài liệu đánh máy vào năm 1971. Phải cắt nghĩa sao cho thỏa mãn sự thắc mắc của lương tri bình thường?
Người ta thắc mắc không hiểu lý do gì tác giả đã không tặng sách cho các đồng chí thân cận của mình. Trong khi đó lại tặng một vị dân biểu trẻ, ở vị thế ngoài đảng, một thế hệ lớp người không dính dấp gì với nền Đệ Nhất Cộng hòa.
Ông Tùng Phong đã có nhã ý đặc biệt gửi tặng một cuốn sách Chính Đề Việt Nam cho ông Mặc Giao, qua bưu điện, một người chỉ có liên hệ sơ giao. Vì thế, đối với ông Mặc Giao thì cái tên Tùng Phong cũng giống như tên một ông X, ông Y xa lạ nào đó. Ông Tùng Phong như thể không là ai cả hay là ai cũng được.
Nếu tặng các đồng chí thân cận thì có khác nào tự tố giác chính mình chăng? Tặng các đồng chí cuốn sách gián tiếp nhìn nhận mình là tác giả, phải chăng điều mà ông Lê Văn Đồng không thể làm?
Việc in lại cuốn sách này năm 1988 cũng có điều để suy nghĩ. Cuốn sách với nội dung viết cách đó 23 năm (1965), nay (1988) xem lại thể nào cũng có sai sót, cũng nhiều điều bất cập và nhất là không thích hợp trong môi trường xã hội, chính trị đã có nhiều đổi thay. Một tác giả cầm bút có trách nhiệm tất nghĩ tới chuyện duyệt lại và tu chính lại cuốn sách, cập nhật hóa những dữ kiện mới. Ông Đồng đã không làm gì cả, để “nguyên con” cuốn sách như cũ.
Rồi nữa, trước và nhất là sau 1965 cho đến 1992, tác giả không hề viết bất cứ một bài viết nào khác ngoài cuốn sách đã in 27 năm trước. Điều đó thật khó hiểu theo suy luận của một người đã có thói quen cầm bút.
Không ai có thể phủ nhận cái quyền của ông Lê Văn Đồng (là tại sao ông) từ trước đến sau chỉ viết một cuốn sách. Nhưng người đọc ông vẫn có quyền đặt những câu hỏi nghi vấn ý nghĩa như thế?
Riêng các vị được phỏng vấn thì có sự trả lời đồng loạt là ông Lê Văn Đồng là người không có khả năng viết. Sự xác nhận này của những người từng hoạt động chung với ông Đồng có thể là một sự bảo kê đáng tin cậy.
Không có khả năng viết thì không viết. Đơn giản chỉ có vậy thôi. Nếu đã viết được thì nào chỉ có một cuốn sách hay một bài báo?
Người ta tự hỏi viết phải chăng là một cái nghiệp? Bỏ nhân tình thì được, nhưng mấy ai đã bỏ được cái nghiệp viết khi đã dính dáng vào nó? Ai đã có thể “cai nghiện” được ngòi bút ngay cả trong tình huống bị cấm đoán như buộc chung sống trong chế độ cộng sản?
Trong khi đó, ông Ngô Đình Nhu, chỉ tính từ 1950 đến 1963, một thời gian được coi là ngắn so với tác giả đã viết không biết bao nhiêu là bài tham luận chính trị văn hóa.
Trong Souverains et notabilités d’Indochine, Ha Noi, Ideo, 1943 đã có ghi tiểu sử ông Ngô Đình Nhu và ông là một trong số những người trí thức thuộc thành phần tinh hoa được đào tạo tại Pháp vào thập niên 1940.
Việc trước tác của ông Ngô Đình Nhu như minh chứng thêm cho việc ông là người của sách vở, nghiên cứu. Tựu chung tập trung vào tuyển tập: Con đường Chính Nghĩa: Độc lập, Dân Chủ. Bộ sách gồm 9 cuốn ghi lại tất cả những bài diễn văn, hiệu triệu do ông Ngô Đình Nhu soạn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm đọc. Sở Báo Chí Phủ Tổng Thống có sưu tập đủ và Bộ Thông Tin Và Thanh Niên đã xuất bản.
Ngoài ra, ông Nhu còn viết một số bài tham luận như:
• Sự góp sức của người công giáo vào hòa bình ở Việt Nam, diễn văn đọc tại trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt ngày 18-4-1952, in lại trong tạp chí Xã Hội tháng 2-1953.
• Lược đồ một cuộc cải tổ cơ cấu xã hội, tạp chí Xã Hội, Sài Gòn 1952.
• Trình bày một quan niệm về Văn Hóa, Gió Nam, Sài Gòn.
• Diễn Văn đọc tại suối Lồ Ồ, Gió Nam, tháng 5-1963.
• Các bài diễn văn và huấn thị của ông Ngô Đình Nhu trong các dịp 17 tháng tư, 1963, 5 tháng 8, 1963, 22 tháng 6, 1963.
• Triết lý truyền thống Á Đông.
• Sứ mạng Thánh thiêng. Có thủ bút của ông Nhu viết bằng tiếng Pháp.
• Interview granted by Mr Ngo Dinh Nhu, political counselor at the presidency to a group of newsmen, 5 tháng 9, 1963.
• Bài Hội kiến với ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị Tổng Thống Phủ, từ trang 51-62 (trả lời phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc trong tài liệu: Vi phạm nhân quyền tại miền Nam Việt Nam, dịch giả Võ Đình Cường).
Dĩ nhiên, còn nhiều bài viết khác chưa được thu thập đầy đủ. Sự trích dẫn trên đây cho thấy sức viết của hai người quá chênh lệch.
(Còn tiếp)
17-03-2010
(http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7237)
Ông Nguyễn Hữu Phương (NHP) ‒ là Người duy nhất được bà Lê Văn Đồng trao tập Chính Đề để ông được quyền in, xuất bản và phát hành. Nhưng ông Phương khi có tập Chính Đề Việt Nam đã đưa cho ông Trương Phú Thứ để sửa lại văn từ với tư cách một người “duyệt văn” và có tên trong việc in cuốn sách. Theo ông Đỗ Như Điện, thì công việc chính là nhờ (ông Trương Phú Thứ) đánh máy, chứ không phải nhờ sửa chữa ấn bản hay cho thêm tên ông Ngô Đình Nhu và tên người hiệu đính vào tập sách.
Biết được những tin tức này (sửa văn, đề tên Ngô Đình Nhu và tên người “duyệt văn”), bà Lê Văn Đồng đã yêu cầu ông Nguyễn Hữu Phương trả lại bản thảo và chấm dứt giao kèo in ấn.
[NVL]: Thưa ông, trong trường hợp nào ông quen biết ông bà Đồng và để được bà Đồng tin cậy giao cho xuất bản cuốn sách?
[NHP]: Đấy chỉ là cái duyên mà tôi quen biết hai ông bà Đồng ở Louisiana.
[NVL]: Ông Lê Văn Đồng đã tiết lộ những gì liên quan đến cuốn sách kể trên?
[NHP]: Theo ông Đồng kể cho tôi nghe thì ông thuộc nhóm các ông Nguyễn Tôn Hoàn và trong một lần được nghe ông Ngô Đình Nhu thuyết trình và kể từ đó, ông Lê Văn Đồng đi sát cánh với ông Ngô Đình Nhu từ 1953-1955.
[NVL]: Ông Lê Văn Đồng đã nói gì liên quan đến tác phẩm “Chính Đề Việt Nam”?
[NHP]: Ông Đồng cho biết là ông được ông Ngô Đình Nhu tín nhiệm nên đã đưa tài liệu viết tay bằng tiếng Pháp bản Chính Đề Việt Nam để ông Đồng dịch ra tiếng Việt.
[NVL]: Thưa, như vậy là ông Đồng xác nhận bản viết tay bằng tiếng Pháp là do ông Ngô Đình Nhu soạn, còn ông Đồng là người dịch ra tiếng Việt. Ông còn nói chính bà Đồng là người đánh máy bản dịch ra tiếng Việt này?
[NHP]: Quả đúng như những gì ông Đồng đã nói với tôi.
Ông Cao Xuân Vỹ ‒ 92 tuổi, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh niên, có thể là một trong những người phụ tá gần gũi cả với ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu từ 1954 cho đến giờ phút chót.
[NVL]: Thưa ông, xin ông cho biết về nguồn gốc tài liệu “Chính Đề Việt Nam”?
[CXV]: Anh biết là ông Ngô Đình Nhu là người đã từng đi thuyết giảng, viết nhiều bài báo từ năm 1947- 1950. Nhưng từ khoảng năm 1958, ông Nhu thường viết rải rác tập tài liệu từng chapitre một, rồi có khi ông cũng hỏi ý kiến tôi về Hồ Chí Minh, về Cộng Sản. Năm 1960, ông có đưa tôi một tập tài liệu bằng tiếng Pháp và dặn đưa người dịch ra tiếng Việt để phổ biến nội bộ trong giới cán bộ cao cấp.
[NVL]: Tài liệu bên ngoài có để tên ông Nhu hay tên hiệu Tùng Phong, thưa ông?
[CXV]: Không, tài liệu đâu có để tên ông Nhu. Cũng không để tên bút hiệu nào cả. Sau đó, tôi có giao tập tài liệu đó cho ông Lê Văn Đồng và nhờ ông này dịch. Rồi tiếp đến xảy ra vụ 1963. Tập tài liệu chưa được phổ biến bị bỏ xó. Nhưng đến năm 1964, tập sách được xuất bản và in ở nhà in của ông Trương Vĩnh Lễ.
[NVL]: Sau này, tập tài liệu được in ra để tên là Tùng Phong, chắc là do ông Lê Văn Đồng đặt ra, có phải vậy không, thưa ông?
[CXV]: Đúng vậy, tên hiệu ấy do ông Lê Văn Đồng đặt ra.
[NVL]: Như vậy cụ Đồng có công dịch, biên tập, rồi để bút hiệu và sau đó in vào năm 1964?
[CXV]: Đúng vậy.
[NVL]: Ông không có thắc mắc gì về cái bút hiệu ấy?
[CXV]: Không, có gì để thắc mắc. Tài liệu do ông Nhu viết, bây giờ muốn in lại thì đề tên gì chả được, miễn là anh em biết với nhau là đủ.
[NVL]: Thưa ông, chính ông đã đưa tập tài liệu bằng tiếng Pháp của ông Nhu cho ông Lê Văn Đồng?
[CXV]: Chắc chắn như thế. Sau này, tôi còn nhớ là có vài Chapitres, không biết tại sao ông Lê Văn Đồng đã bỏ sót.
[NVL]: Thưa ông, trong lời nhà xuất bản Hùng Vương (1988) có nói rõ, “tài liệu nghiên cứu do một nhóm chiến sĩ trong bộ phận nghiên cứu chính trị của Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam soạn thảo để kính tặng cách chiến sĩ vô danh của Cộng Đồng Quốc Gia Việt Nam.” Như vậy, tập tài liệu có thể không phải do ông Nhu mà cũng không phải do ông Đồng?
[CXV]: Đồng ý trên danh nghĩa là có ghi như thế, nhưng các cán bộ nòng cốt chỉ có thể góp ý trong lúc in ấn. Chẳng hạn như tôi có viết gì đâu. Để tên vậy thôi. Nhưng toàn bộ văn bản vẫn là chính sách, đường lối của ông Nhu. Không ai có thể đưa ra chính sách, đường lối ngoài ông Nhu được.
[NVL]: Thưa ông, trong lần in năm 1964, có bao giờ ông nghe ông Lê Văn Đồng tự nhận mình là tác giả cuốn “Chính Đề Việt Nam”?
[CXV]: Không bao giờ có chuyện đó. Làm sao ông Đồng mặt mũi nào dám nhận mình là tác giả. Tất cả mọi anh em đều biết là tài liệu của ông Nhu viết. Tôi nghĩ ông Đồng không không có ý muốn nhận mình là tác giả đâu?
[NVL]: Thưa ông, nhưng lần in năm 1988 ở Mỹ, ông Lê Văn Đồng có nhận mình là tác giả không?
[CXV]: Cũng không nữa. Chúng tôi có họp nhau lại bàn bạc trước khi quyết định cho in. Dù để ngoài bìa là Tùng Phong và do một số anh em soạn thảo cũng vẫn là câu chuyện hình thức, câu chuyện đứng ra xuất bản. Sau này, khi được nghe tin ông Lê Văn Đồng nhận là tác giả thì ông Đỗ La Lam biết, khó chịu nhưng cũng không nói gì. Nếu ông Lê Văn Đồng là người tự nhận là người viết thì nay đã có lần tôi đề nghị bà Đồng đưa bản viết tay bằng tiếng Pháp cho mọi người coi để câu chuyện được minh bạch. Nhưng bà ấy không chịu đưa ra. Chúng tôi biết làm thế nào?
[NVL]: Thưa ông, có phải ông vừa xác nhận, như một nhân chứng, là tài liệu Chính Đề Việt Nam bằng tiếng Pháp đã được ông Nhu giao cho ông và ông đưa cho ông Lê Văn Đồng dịch ra tiếng Việt?
[CXV]: Đúng vậy. Tôi già rồi, lẩm cẩm nhiều rồi, nhưng điều này thì không thể lẫn được. Và tôi mong các anh làm sao phổ biến rộng rãi tài liệu đến thế hệ thanh niên trẻ, nhất là những người trong nước để họ có dịp được đọc tài liệu này.
Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh (NVM) ‒ Phụ trách Văn phòng Cố vấn Chỉ đạo miền Trung (làm việc với ông Ngô Đình Cẩn), tác giả cuốn sách Dòng họ Ngô Đình, Giấc Mơ Chưa Đạt.
[NVL]: Thưa ông, ông có dịp được đọc bản bằng tiếng Pháp của tập tài liệu Chính Đề Việt Nam hồi ở Việt Nam không?
[NVM]: Thú thực là không vì tôi làm việc bên cạnh ông Ngô Đình Cẩn ở Huế nên chưa có dịp được đọc tài liệu này. Nhưng tôi giả dụ rằng ông Lê Văn Đồng chính là người viết tập tài liệu này thì ông phải được chính ông Nhu chỉ định và nếu có viết là viết theo sự chỉ đạo trực tiếp của ông Nhu. Chẳng hạn, ông Nhu đưa ra đề cương, đường hướng và ông Lê Văn Đồng khai triển những ý tưởng chỉ đạo của ông Nhu. Đó là lối làm việc quen thuộc mà tôi biết.
[NVL]: Nhưng ông Đồng vẫn có thể viết một cuốn sách như thế chứ?
[NVM]: Dĩ nhiên là không ai cấm ông Đồng viết sách, nhưng ông sẽ viết sách nghiên cứu chứ không viết một tập tài liệu học tập. Tôi giả dụ ông Đỗ La Lam được phân công giữ hồ sơ, sổ sách, tài liệu. Ông Cao Xuân Vỹ lo phần sinh hoạt, tài chánh. Ông Bùi Kiến Thành lo phần tổ chức. Ông Trần Kim Tuyến lo tuyên huấn, ông Phạm Văn Nhu lo về Hành Chánh.
Như thế nếu cần viết tài liệu học tập, ông Ngô Đình Nhu sẽ giao cho ông Trần Kim Tuyến có trách nhiệm để viết. Nhưng nếu ông Tuyến viết thì không có lý do gì ông lại viết bằng tiếng Pháp. Ngay cả ông Lê Văn Đồng, dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt được thì hà cớ gì không viết tiếng Việt để tự mình chuốc lấy vất vả tự dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt cho mất công?
Ông Phạm Đình Khiêm lo dịch ra tiếng Việt các bài diễn văn của ông Nhu viết cho cụ Diệm. Giáo sư Tôn Thất Thiện dịch ra Anh văn cho người ngoại quốc.
[NVL]: Mặc dầu không được đọc bản tài liệu bằng tiếng Pháp, nhưng đã có lần nào, ông nghe ông Lê Văn Đồng là người nghiên cứu, viết các đề cương chính trị, các biên khảo nào khác ngoài cuốn tài liệu trên không?
[NVM]: Tôi chưa nghe ai nói vai trò của ông Lê Văn Đồng trong chức vụ viết tài liệu học tập. Nếu không có vai trò ấy, giả thiết ông là người viết tập tài liệu này không đứng vững.
[NVL]: Thưa ông, ông nghĩ sao khi thấy có sự tranh chấp về quyền ai là tác giả Chính Đề?
[NVM]: Tôi thật không vui, vì nó làm suy giảm uy tín của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhiều anh em như giáo sư Tôn Thất Thiện thì cho rằng vấn đề ai viết không quan trọng mà là giá trị tập tài liệu để lại mới là điều quan trọng.
Mặc dầu tôi không được đọc tài liệu viết tay bằng tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu, nhưng như ông biết đấy và ông có bổn phận đưa những tài liệu do ông Ngô Đình Nhu viết ra để chứng tỏ rằng không ai khác ngoài ông Nhu có khả năng, và nhất là trong vai trò lãnh đạo để đề ra cương lĩnh, đường lối chính sách của Việt Nam cho các cán bộ học tập.
[NVL]: Thưa ông, sau khi phỏng vấn nhiều nhân vật liên hệ, quả có sự thiếu sót trong việc bảo quản tài liệu, hoặc không đánh giá đúng mức tài liệu. Ngày nay đọc lại tài liệu này thì vỡ lẽ ra là nhiều việc đã được phân tích, đánh giá từ 50 năm trước. Đến bây giờ người đọc mới có đủ điều kiện để thấy được đúng mức giá trị tập tài liệu.
[NVM]: Nhận xét thật không sai. Nhưng chúng ta còn có cơ hội để chuộc lại những thiếu sót của quá khứ.
[NVL]: Có thể có dư luận nghĩ rằng các anh chỉ là những cựu đảng viên Cần Lao, nuối tiếc dĩ vãng và nay muốn phục hoạt lại Cần Lao ở Hải Ngoại?
[NVM]: Xin hỏi ngược lại, ngày nay người nào cũng trên 70 chục, chúng tôi phục hoạt lại Cần Lao để được cái gì? Vấn đề là là cái tinh thần của Đệ nhất Cộng hòa cần phải được duy trì như một phương tiện tranh đấu cho một nước Việt Nam tương lai. Đó là việc của chúng tôi và thế hệ tiếp nối như ông sau này.
Cựu Nghị sĩ Lê Châu Lộc (LCL) ‒ Nguyên là Đại úy, Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong 5 năm. Sau 1963, ông xin giải ngũ, đi học lại Quốc Gia Hành Chánh, rồi sang Anh theo học trường London School of Economics and Political Science. Cùng học tại trường này còn có các ông Tôn Thất Thiện, Phạm Kim Ngọc, Châu Kim Ngân.
[NVL]: Thưa ông, làm việc gần kề Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, chắc ông có cơ hội được đọc tập tài liệu Chính Đề Việt Nam bằng tiếng Pháp?
[LCL]: Phải nói rằng cái số của tôi luôn luôn là sống và giữ những vai trò “lớn hơn” khả năng mà tôi có. Một sĩ quan trẻ, thiếu hiểu biết và kinh nghiệm chính trị lại ở vào vị trí bên cạnh những người lãnh đạo đất nước nên nhiều điều vượt tầm tay của tôi. Và tôi cứ phải tự học dần, hiểu biết dần dần. Khi tôi sang thăm Do Thái, tôi mới hiểu được Chiến lược An ninh và Phát triển của ông Ngô Đình Nhu, nhớ lại những suy nghĩ của ông ấy có trước cả mấy chục năm.
Tôi gọi chính sách ấp chiến lược của ông Ngô Đình Nhu là một tô phở đầy đủ. Có thịt, có hành ngò, bánh phở gia vị. Có tất cả. Đó là một kiểu mẫu một xã hội hương xã tự lực, tự cường, tự bảo vệ. Dương Văn Minh lên không biết gì đã làm hỏng tất cả. Tôi gọi thời kỳ 9 năm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “thời kỳ xuyên sa mạc”, họ đơn thương độc mã đề ra đường lối chính sách mà ít ai chia sẻ được.
[NVL]: Tôi xin được nhắc lại câu hỏi của tôi ở trên.
[LCL]: Vâng, câu hỏi của anh đặt ra cho bản thân tôi rất là quan trọng. Phần tôi, tôi có trách nhiệm trước lịch sử với tư cách người làm chứng, tôi xin trả lời anh là chính tôi đã được đọc tập tài liệu ấy, vài chục trang, không phải tất cả tập tài liệu do ông Võ Văn Hải đưa cho tôi.
[NVL]: Tập tài liệu do ông Võ Văn Hải đưa cho anh là tài liệu viết tay hay đánh máy?
[LCL]: Tài liệu đánh máy bằng tiếng Pháp, nhưng cũng có vài trang viết tay của ông Nhu.
[NVL]: Tài liệu có nhan đề là gì và có đề tên tên tác giả không?
[LCL]: Không đề tên tác giả cũng không có nhan đề.
[NVL]: Rồi ông làm gì với tập tài liệu đó?
[LCL]: Tôi cũng đọc, nhưng thú thực, lúc ấy tôi không mấy chú tâm đến tập tài liệu, rồi để đâu đó không nhớ nữa.
[NVL]: Nhưng một lần nữa, anh có nhớ là nội dung tập tài liệu anh đã đọc so sánh với tập tài liệu Chính Đề Việt Nam là một?
[LCL]: Ai nói khác là không được. Tôi khẳng định như thế. Có điều như tôi đã nói với anh là với tuổi trẻ, tôi cũng đọc cho qua, hiểu biết sơ sài rồi cũng quăng tập tài liệu đâu đó. Làm sao, tôi có thể thấy được giá trị lịch sử của tập tài liệu nguyên bản tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu?
Nhưng với độ lùi lịch sử vừa đủ để tôi dần hiểu biết ra rằng họ là những người lãnh đạo có tầm nhìn lịch sử với lòng yêu nước khó ai sánh bì. Tôi nhớ lại có lần bay trực thăng tháp tùng Tổng Thống, có ông Đại sứ Nolting đi cùng. Ông Diệm chỉ cho ông Đại sứ cho thấy làng mạc trong Nam, nhà cửa ở rải rác, nhà nọ có thể cách nhà kia cả cây số. Ông Diệm hỏi ông Nolting, làm thế nào tôi có thể phát triển cho dân quê? Giả dụ tôi muốn xây một bệnh xá, mở một trường tiểu học thì tôi sẽ phải chọn xây ở đâu? Đầu này hay đâu kia? Có thể ông cụ ảnh hưởng tinh thần Dinh Điền xứ của cụ Nguyễn Công Trứ, ảnh hưởng tinh thân xã thôn ngoài Bắc nên mới nảy sinh cái tư tưởng Khu Dinh Điền, Khu Trù Mật. Mật không phải chỉ sự giầu có mà mật là chỉ cái độ Densité, cái Masse, cái volume. Có nghĩa là mật độ dân chúng phải tụ tập lại thành một làng, một hương ước, có tổ chức hành chánh, có trường học, có bệnh xá, có tinh thần xã thôn vừa tự bảo vệ và tự phát triển.
[NVL]: Ông Diệm nói tiếng Anh trực tiếp với Nolting không cần qua thông dịch viên?
[LCL]: Đây là câu hỏi lần thứ nhất tôi được nghe. Ông Diệm nói được tiếng Anh với chính khách Mỹ. Cả Ông Nhu cũng vậy. Nhưng để dễ dàng hơn cho ông Diệm, nhiều khi ông Nolting nói bằng tiếng Pháp. Chỉ khi nào có lễ lạc quan trọng thì dùng thông ngôn cho đúng thủ tục ngoại giao thôi.
[NVL]: Xin phép hỏi một câu hỏi hơi ngoài lề một chút; dư luận cho ông Diệm ông Nhu là người của Thiên Chúa Giáo, ông nghĩ thế nào về điều này?
[LCL]: Tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải phá vỡ cái khung thành kiến cho rằng ông Ngô Đình Diệm là người của Thiên Chúa Giáo, chỉ biết lo cho cho người cùng đạo. Tôi ở bên cạnh ông Diệm suốt 5 năm, tôi nhận thấy Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người yêu nước, chỉ biết lo cho đại cuộc, chỉ nghĩ tới sự an ninh và no ấm cho nhân dân miền Nam.
Hãy nhìn vào tất cả công trình 9 năm mà họ đã làm. Và nhìn lại những năm còn lại, những người nối tiếp ông làm được gì? Tất cả những gì ông đã làm là cho đại cuộc. Nói khác đi là bất công lắm cho ông.
Vì thế thú thực với anh, khi có dịp đọc lại tập tài liệu, tôi như bị “giác ngộ”, vỡ lẽ ra quan điểm của ông Ngô Đình Nhu cùng lúc đánh 3 mặt trận: Phong Kiến, Cộng Sản và Chậm Tiến.
Tập tài liệu rò ràng có tính cách sư phạm, có ý hướng dẫn chỉ đạo. Ngôn ngữ trong tập sách là ngôn ngữ của một người lãnh đạo, chỉ dẫn, “chúng ta phải thế này”, “phải thế kia”. Nó không phải tập tài liệu nghiên cứu.
[NVL]: Thưa ông, ông đánh giá ra sao về mức độ hiểu biết của ông Lê Văn Đồng?
[LCL]: Nếu dánh giá dựa trên các tài liệu viết ra thì tôi không có hân hạnh đọc bất cứ tài liệu nào do ông Lê Văn Đồng viết. Nhưng, nếu tôi có thêm một dịp khác để chứng minh tài liệu Chính Đề Việt Nam là của ông Ngô Đình Nhu và mong rằng, nếu tin vào lời nói của tôi thì những tranh luận chung quanh vấn đề tác giả coi như giải quyết xong.
Sau này, tôi được luật sư Nguyễn Văn Huyền mời vào đứng chung trong Liên danh Bông Huệ, trong đó lại một lần nữa, tôi là người trẻ nhât bên cạnh các cụ Huyền, cụ Trần Văn Hương... Cạnh đó, ông Lê Văn Đồng đứng trong một liên danh khác. Vì thế trong nhiều năm sinh hoạt chung, tôi có nhiều dịp được trò truyện, tiếp xúc với 60 Nghị sĩ Thượng Viện.
Trong một dịp ngồi chung nói chuyện, có mặt Nghị sĩ Trần Trung Dung, ông Lê Văn Đồng có hỏi tôi có đọc tài liệu của ông cố vấn Ngô Đình Nhu viết bằng tiếng Pháp chưa?
[NVL]: Đây là một điểm quan trọng, mong ông nói rõ chi tiết.
[LCL]: Vâng, tôi có trả lời là có đọc được một phần do ông Võ Văn Hải đưa cho đọc. Sau đó, ông Đồng có đưa cho tôi tập tài liệu và khuyên tôi nên đọc lại và cần được phổ biến rộng rãi.
[NVL]: Tập tài liệu mà ông Lê Văn Đồng đưa cho anh là tài liệu viết tay, hay đánh máy bằng tiếng Pháp hay tài liệu đã dịch ra bằng tiếng Việt?
[LCL]: Tài liệu đã dịch ra tiếng Việt anh ạ.
[NVL]: Xin hỏi lại một lần nữa, khi ông Đồng đưa cho ông tập tài liệu bằng tiếng Việt thì ông nói rằng “Anh có đọc tập tài liệu này của ông cố vấn Ngô Đình Nhu chưa?”
[LCL]: Thưa đúng như vậy .
[NVL]: Thái độ của cụ Đồng lúc ấy, theo anh thấy thế nào?
[LCL]: Đó là thái độ tỏ ra rất trân trọng và quý mến ông Ngô Đình Nhu. Ông tưởng tôi chưa được đọc nên mới đưa và còn nói, cần phổ biến rộng rãi.
[NVL]: Vậy anh nghĩ gì, nếu có sự thay đổi của cụ Lê Văn Đồng sau này?
[LCL]: Tôi thật sự không hiểu được tại sao ông Lê Văn Đồng đã thay đổi thái độ và nhận là tác giả tập tài liệu Chính Đề Việt Nam vào lúc cuối đời như thế. Ông mất cái tín nghĩa đối với người lãnh đạo của mình. Và những người cùng cộng tác với ông dưới chế độ Đệ nhất Cộng hòa và họ sẽ nghĩ sao về sự bội tín này?
Một lần nữa, sau 1975, tôi đã không mang theo được tập tài liệu do ông Lê Văn Đồng đưa cho. Biết nói với anh thế nào bây giờ?
Phần phỏng vấn ông Phạm Đỉnh, đại diện cho Thông Luận, tiếng nói phản biện
[NVL]: Thưa ông, trước hết về danh tính, Phạm Đỉnh có phải là bút hiệu của Trần Xuân Kiên không?
[PĐ]: Vâng, thưa phải, Phạm Đỉnh là tôi. Nhưng thật ra bút hiệu Phạm Đỉnh là chung cho ba người trong ban biên tập của Thông Luận mà tôi là người dùng nhiều hơn cả.
[NVL]: Thưa ông, bây giờ chúng ta đi vào câu chuyện “Chính đề” của buổi nói chuyện hôm nay. Ông căn cứ vào điều gì để cho rằng tác giả Chính Đề Việt Nam là ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Thứ nhất là căn cứ vào sự xác nhận của chính ông Đồng.
[NVL]: Sự xác nhận ấy có ai khác ngoài ông?
[PĐ]: Thật ra bữa đó, tôi không có mặt, chỉ do anh em nói lại. Đặc biệt do anh Nguyễn Gia Kiểng xác nhận.
[NVL]: Ngoài sự xác nhận, ông Đồng có còn đưa ra một “bằng cớ vật chất” gì khả dĩ xác nhận tính cách chủ quyền tác phẩm Chính Đề Việt Nam. Chẳng hạn một tờ giấy thủ bút những trang tài liệu?
[PĐ]: Như ông biết đấy, cách làm việc của tôi giống như khi tôi nghiên cứu ai là tác giả “Chinh Phụ Ngâm Khúc”, tôi dựa vào văn bản để tìm tác giả bởi vì trong một số điều kiện khách quan khó có cơ hội tìm vết tích quá khứ bằng vật chứng.
[NVL]: Dựa vào văn bản, anh nhận ra điều gì để chứng tỏ thẩm quyền tinh thần này là sản phẩm trí tuệ của ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Sau này, khi được tiếp xúc với ông Đồng, tôi nhận thấy ông là người rất phóng khoáng, rất tự do và dân chủ, không gò bó câu nệ. Điều đó ăn khớp với cái tinh thần của nội dung trong tập “Chính Đề Việt Nam”.
[NVL]: Xin anh nói rõ thêm.
[PĐ]: Chẳng hạn chương bàn về ngôn ngữ, về phong cách trong những luận điểm, tác giả so sánh ngôn ngữ Việt và Tàu và nhận ra ngôn ngữ Việt theo mẫu tự La tinh là một khí cụ sắc bén trong việc tranh đấu. Xem ra cách diễn tả của ông Nhu còn nhờ cậy vào tiếng Pháp không phù hợp với những biện luận về vai trò ngôn ngữ như ông Lê Văn Đồng đề ra. Phong cách, cách nhìn của ông Nhu qua những bài diễn văn viết cho Ông Diệm cho thấy tính cách một nhà nho đạo đức, bảo thủ rất trái ngược với phong cách viết trong Chính Đề Việt Nam, rất phóng khoáng, chắc nịch với những đề cương bạo dạn, dám nghĩ.
[NVL]: Về mặt lý luận thì như thế. Và phía bên kia cũng đã từng dựa vào văn bản của cuốn “Chính Đề Việt Nam” để biện minh rằng không ai khác ngoài ông Ngô Đình Nhu có thể viết một cách sâu sắc như thế. Xem ra bằng cớ của hai bên đều có một mẫu số chung khó biện giải. Nhưng ông nghĩ thế nào về tính áp đảo dựa vào các nhân chứng sống, một nhân sự thuộc chế độ Đệ nhất Cộng hòa?
[PĐ]: Về điểm này, tôi có cảm tưởng các cụ muốn thần thoại hóa một giai đoạn, một chế độ, một con người Ngô Đình Diệm hay Ngô Đình Nhu. Đó là nếp gấp suy nghĩ của người già không thay đổi, một tâm lý hoài niệm.
[NVL]: Ông có nghĩ rằng bài phỏng vấn này được đăng lên sẽ tạo ra một bất lợi về phía ông, về tính áp đảo dựa trên những nhân vật còn sống với những lời khẳng định, chắc nịch như không tranh cãi được nữa?
[PĐ]: Có thể như anh nghĩ, nhưng tôi vẫn có những xác tín dựa trên văn bản, trên góc độ nhìn và suy luận của tôi, vì thế, tôi đã quyết định dứt khoát cho đăng lại toàn bộ tập sách chính đề. Và cũng khẳng định bảo vệ quan điểm của tôi.
[NVL]: Phần anh, nghĩ sao về con người ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Sau thời gian thôi làm Đổng lý Văn Phòng Bộ Canh nông, ông đã làm công việc dịch thuật cho Tòa Đại sứ Mỹ, có thể là làm công việc dịch thuật cho CIA. Ông tiếp cận nhiều nguồn tài liệu, đọc nhiều và tỏ ra vững chãi trong những suy luận của mình. Thời gian từ 1957 tới 1964, đó là thời gian để ông chín mùi.
[NVL]: Nói về thời gian, tôi khá thắc mắc là cuốn sách tại sao “không chín mùi trước 1963” mà phải đợi sau khi ông Ngô Đình Nhu không còn nữa nó mới kịp chín? Ý nghĩa việc xuất bản năm 1964 sẽ là một đề tài tranh luận không kém quan trọng. Vả lại việc in cuốn sách đã được sự đồng thuận của các “cựu đồng chí”. Có thể, ông Trương Vĩnh Lễ còn in “chùa” nữa vì biết rằng đây là cuốn sách của cựu lãnh tụ của ông? (Ý trên đây không có trong cuộc trao đổi với ông Phạm Đỉnh.)
[PĐ]: Trong khi tiếp xúc với anh em Thông Luận, ông Đồng đã tích cực tham gia vào việc tu chính “Cơ sở Tư tưởng” của ông Nguyễn Gia Kiểng, nhìn vấn đề một cách thích ứng và trẻ trung. Đó là một con người cấp tiến thích ứng kịp thời với những tư tưởng mới.
[NVL]: Ngoài tập sách “Chính Đề Việt Nam”, ông có được biết ông Lê Văn Đồng còn viết gì khác nữa không?
[PĐ]: Thưa theo tôi biết thì không.
[NVL]: Điều đó có thể là một nguyên cớ để người khác đặt nghi vấn về khả năng viết lách của ông Đồng hay không?
[PĐ]: Tôi không nghĩ đó là lý do để nghi ngờ khả năng của một người cầm bút.
[NVL]: Theo tôi được biết, ông Ngô Đình Luyện khá thân với ông Nguyễn Gia Kiểng; trong những tiếp xúc giữa hai người, có lúc nào ông Ngô Đình Luyện đề cập đế cuốn sách “Chính Đề Việt Nam” của ông Nhu không?
[PĐ]: Không, ông Ngô Đình Luyện không hề nói tới. Đằng khác, ông còn bày tỏ thái độ bực bội với ông Nhu về cách cầm quyền của ông anh mình. Giữa ông Lê Văn Đồng, ông Ngô Đình Luyện và ông Nguyễn Gia Kiểng có một liên hệ bạn bè gần gũi và thân tình.
[NVL]: Theo ông Đỗ Như Điện cho biết, cuốn sách in năm 1964, khi in ra bị cấm phát hành vì bị xếp vào loại sách chế độ cũ, điều này khác hẳn với cái version của ông Lê Văn Đồng đăng trên Thông Luận?
[PĐ]: Vào thời điểm sau 1964, tôi không thấy bất cứ một lệnh cấm nào đối với sách vở in trước 1964. Sách vở cũ vẫn được bày bán tự do trong các tiệm sách và trên hè phố.
[NVL]: Việc Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng bị thôi chức vụ Đổng lý Bộ Canh nông, vì bất đồng chính kiến với ông Nhu, một bên dân chủ, một bên độc tài. Nhưng theo ông Cao Xuân Vỹ thì việc ông Diệm cho thôi chức Đổng lý vì ông Đồng có liên quan đến vấn đề cắt gỗ của mấy ông hạm tham nhũng.
[PĐ]: Việc này tôi không nắm được ngoài thẩm quyền hiểu biết của tôi.
[NVL]: Còn một việc nữa; Thông Luận giới thiệu ông Đồng đã đậu Tiến sĩ Toán học, tại Louisiana và sau đó làm Giáo sư Đại học. Trong 47 tiến sĩ Toán (1970-1979) và 29 tiến sĩ Toán (1980-1989) tốt nghiệp tại Đại học Louisiana State University không có tên Lê Văn Đồng (Nguồn: https://www.math.lsu.edu/dept/grad/phdgrads#d1970s). Hơn nữa tại Louisiana có nhiều Đại học, University of Louisiana at Lafayette, Louisiana State University, Southeastern Louisiana University, Louisiana Tech University (không có ban Toán bậc Tiến sĩ). Ông nghĩ sao về việc này?
[PĐ]: Tôi chỉ ghi lại theo lời ông Đồng và chưa có dịp kiểm chứng lại. Việc này tuy nhỏ, nhưng có thể gây ảnh hưởng tới cái độ khả tín của ông Đồng.
[NVL]: Anh nghĩ sao về những bài viết gần đây liên quan đến cuốn “Chính Đề Việt Nam”?
[PĐ]: Nói chung ít có mức độ khả tín. Có nhiều bài viết như của ông Trương Phú Thứ nổ quá, chê bai tác giả đến độ ông ấy phải “nhuận sắc” lại thì quá đáng. Thế còn anh nghĩ sao về những bài viết của ông Tôn Thất Thiện?
[NVL]: Anh hỏi ngược lại tôi thì cũng xin trả lời, ông ấy viết hai ba bài thì có chỗ sai đã xin cải chính. Nhưng không hiểu sự quen thuộc với văn phong của ông Ngô Đình Nhu đến như thế nào, (khi so) giữa một văn bản tiếng Pháp trong các bài diễn văn cho ông Diệm đọc và (với) văn phong trong bản tiếng Việt của “Chính Đề Việt Nam”. Có điều gì để ông Thiện nắm bắt được ngay rằng đó là hai văn bản của cùng một tác giả?
Anh có điều gì muốn nói với độc giả đọc bài này?
[PĐ]: Theo tôi được biết thì bà quả phụ Lê Văn Đồng sẽ đưa vụ in ấn năm 2009 ra kiện trước tòa án. Tôi cũng không hiểu bà dựa trên yếu tố pháp lý nào để đi kiện.
[NVL]: Và theo tôi nghĩ, không biết ông Ngô Đình Nhu có cần những vinh danh cuối mùa trong lúc này hay không? Và có thể cả trong trường hợp ông Lê Văn Đồng nữa.
Chấm dứt bài phỏng vấn ở đây với sự nuối tiếc và một tâm trạng buồn, nhưng tôi hy vọng người đọc bài này có đủ thông tin để biết sự thật và công bằng để thấy rằng ai ‒ giữa hai người đã không còn nữa ở trên cõi đời ‒ là tác giả tập tài liệu “Chính Đề Việt Nam.”
© DCVOnline
Phụ Lục by PG
Lời Dẫn:
Số là trên 1 FB STT của một quý bà (PL) cách đây 2 ngày, Her có copy 1 đoạn văn và đố giang hồ đoạn văn đó do ai viết, publish lúc nào ở đâu ...
Một ông bạn FB của tôi có share về, ngay lúc ấy ổng còm bên dưới, réo Lady PL vào hỏi "nghi là Chính Đề Việt Nam"? Her reply là phải quá 24 hours Her sẽ đáp.
Riêng tôi ngay lúc ấy đọc đi đọc lại đoạn văn và nhớ là mình đã đọc nó -mới có 1, 2 tháng đây thôi- trên một image (ảnh chụp trang sách cũ) từ 1 bài viết do Dương Nghiễm Mậu viết đăng trên tờ tạp chí Văn (?) ở Saigon khoảng 1964, 1965
Đoạn văn mà Lady PL trích để đố pà kon là Text, dĩ nhiên. Còn cũng đoạn ấy, trong trí nhớ tôi là mình đọc trên image mà cũng mình nhớ là by Dương Nghiễm Mậu
Mọi sự sinh ra từ chỗ này. Vì Text thì bạn có thể dùng Google search engine để tìm source, còn với image thì không làm sao tìm ra được bằng Google search, chỉ còn biết dựa vào trí nhớ, tôi sẽ cố nhớ đã đọc đoạn văn đó trên image trong my PC hay trên Cyberspace ...
Hôm sau tôi bèn thử search thì ông Google chỉ dẫn tới có mỗi 1 kết quả nơi một vài trang có post quyển Chính Đề Việt Nam dưới dạng Text hoặc pdf.
Mà như ta đã biết Chính Đề Việt Nam hiện chưa xác định được ai là tác giả. Sự vụ vô định tác giả này tôi cũng biết đã nhiều năm qua rồi. Nhưng ác nỗi là nhiều người Việt mình, ngay cả khi đã ở hải ngoại với không khí tự do và phương tiện đầy đủ, thì lại có tác phong làm việc rất kém, cẩu thả, lười biếng, kém suy luận, dễ tin, cho nên nhiều trang cứ việc ngoan ngoãn copy và đăng lại bừa phứa cái bản Text of Chính Đề Việt Nam, nơi Text ấy có đề tên tác giả là Tùng Phong kèm mở ngoặc (Ngô Đình Nhu) khiến rất nhiều người tin là ông Ngô Đình Nhu là tác giả của Chính Đề Việt Nam.
Text này là do một người nào đó typing lại cuốn Chính Đề Việt Nam (hỏng biết có trung thực không à?), rồi tự tiện mở ngoặc đơn (Ngô Đình Nhu) rồi convert to PDF, cách edit Text vụng về cẩu thả thiếu sót, thiếu sót quan trọng nhất là KHÔNG CÓ cái hình bìa gốc orginal book front cover image in first publication at Saigon 1965, và đăng vô tội vạ ra nhiều nơi bất chấp những hoài nghi, nghi vấn không thể không có đối với dân đọc sách và có hiểu biết thời cuộc.
Chính Đề Việt Nam mới tự dưng xuất hiện lại ở hải ngoại khoảng 1988, và 2009, nghe nói là dựa từ 1 bản gốc. Bản gốc này của ông Mạc Giao được ông Lê Văn Đồng (đã chết 1992) tặng vào năm 1968. Trước khi Saigon thất thủ vào April 30, 1975 ông Mạc Giao đã mang theo cùng khi đi tị nạn ở ngoại quốc.
Bìa của Chính Đề Việt Nam ghi rõ NXB Đồng Nai 1965. Book's Front Cover ghi rõ (trên đầu Title of Book) tên tác giả là Tùng Phong. Lê Văn Đồng là đồng sự thân cận của Ngô Đình Nhu. Nơi 2 trang bìa lót trong, đầu sách, có 2 dòng chữ cùng 1 tuồng chữ cùng màu mực và nhìn kỹ thì được viết ra cùng lúc, trang left để "tác giả kính tặng" liền dưới ký tên Tùng Phong khá rõ, kèm 1 dấu ấn triện. Trang right lại ghi "thân tặng ông Mạc Giao, Dân biểu Quốc hội, Saigon 18/1/1968" dưới ký tên gần như là "lê văn đồng" và cũng đóng cùng 1 ấn triện như trang left.
Nguyên do một phần khiến giờ đây ai ai người ta cũng cứ yên chí là Ngô Đình Nhu là tác giả của Chính Đề Việt Nam còn có thể do bởi 1 bài post trên Thông Luận vào 2010 (URL bài này nay đã mất vì khi Nguyễn Gia Kiểng bị đảo chính hồi đầu năm 2017 này thì nhóm truất phế ông ta đã chiếm luôn trang Thông Luận chấm org và họ xóa bỏ nhiều bài mang vết tích độc tôn độc tài của Kiểng trong đó có bài ấy).
Vào Mar. 2010, ông Nguyễn Văn Lục làm 1 công trình phỏng vấn (gồm 4 kỳ) những ai có liên quan tới tập sách Chính Đề Việt Nam (dày hơn 400 trang thì phải) mà hiện đang còn sống.
Ở đây, lại có 1 zic zac nhỏ, là 4 kỳ p/v ấy vốn đã đăng trên DCVOnline chấm net từ Mar. 14, April 2010. Khi tôi truy tìm gốc tích này thì mới đau đầu là 4 kỳ p/v ấy đã không còn trên database của DCVOnline, khi vào chính Nguyễn Văn Lục's Item / Category thì chỉ còn có 8 pages, page cũ nhất là những bài của tác giả Nguyễn Văn Lục hồi 2015! Tôi còn nhớ khoảng cuối 2010, DCVOnline bị hacked một cú khá nặng, phải chăng họ đã bị mất nhiều dữ liệu theo coup phá hoại ấy?
Vậy là lại thêm chút rắc rối nữa cho các dấu tích nguyên thủy với đầy đủ ảnh minh họa của 1 loạt bài p/v công phu hữu ích kia!
Tôi chỉ còn lưu giữ được dấu tích URL của 2 kỳ 3 và kỳ 4 -cũng là phần Kết của loạt bài phỏng vấn- mặc dù các URL này nay cũng không còn hiện hữu nữa.
Tôi tiếp tục tìm và chỉ gặp may khi mò tìm được nơi mấy cái group, blog vật vạ trôi nổi trên Cyberspace, kể cũng may nhờ có họ đã copy & paste lại "nguyên con" ngẫu nhiên vào thời điểm ấy nên lưu giữ được phần Text tới nay (riêng các ảnh kèm theo bài p/v bị mất hết), tôi bèn gom rời rạc 3 nơi lại nay đã có đủ trọn bộ 4 kỳ p/v by Nguyễn Văn Lục, hú hồn!!!
Ác 1 nỗi nữa là chính tác giả Nguyễn văn Lục cũng có 1 site dạng như 1 Blog của ông, mà khi tìm nơi ấy, trong hàng chục hàng trăm bài của ông, lại không có 4 kỳ p/v này!!! Không hiểu vì sao ông Lục cancel nó hay chỉ vì ông bỏ sót nó? Ông viết rất nhiều trong mười mấy năm nay và những bài của ông rất công phu và hữu ích vì chứa nhiều Sử liệu quý về miền Nam quốc gia.
Nay tôi xin làm lại Text của trọn 4 kỳ phỏng vấn ấy kèm hình ảnh và các chú thích cần thiết (tôi tự tìm riêng, được nhiêu hay nhiêu) cho sự việc được rõ ràng mạch lạc tối đa có thể, ngõ hầu lưu giữ 1 loạt bài p/v có giá trị giúp ta giải nghi nhiều điều còn vây quanh tập Chính Đề Việt Nam hiện đang lưu hành được bảo là của Ngô Đình Nhu, từ nội dung, cho tới tác giả.
Riêng tập Chính Đề Việt Nam nguyên thủy thì tôi nghĩ chỉ khi nào ta phải được đọc bản scanning image book xuất bản vào 1965 tại Saigon thì ta mới tin đó là bản original, sau khi đọc ta mới có thể xác định có phải ông Nhu là tác giả của nó hay không
Kính cáo
PG Thu Phap Gia
Nov. 28, 2017
P/S:
Trong luận suy, luận đoán của riêng tôi, cộng với những gì diễn bày một cách khách quan qua công trình phỏng vấn của Mr. Nguyễn Văn Lục, thì tôi thấy quyển Chính Đề Việt Nam hiện đang lưu hành trên Cyberspace không đủ tin cậy đó là bản nguyên thủy first publication.
Quyển Chính Đề Việt Nam có ba lần xuất bản: 1965, 1988 và 2009.
Ta không khỏi thắc mắc, tại sao 1 first publication book, khi publishing again -tái bản- 2 lần sau hơn 2 chục năm và rồi hơn 4 chục năm, mà người publishing lại tự tiện typing rồi tự tiện ghi mở ngoặc Ngô Đình Nhu sau tên tác giả Tùng Phong? (Ông Nhu là bào đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, với chức vụ Cố Vấn của Tổng Thống. Sử liệu về ông Nhu không thiếu, thế nhưng không hề có bất kỳ 1 Sử liệu nào cho biết Ngô Đình Nhu có bút danh là Tùng Phong cả!?) Bởi sau gần nửa thế kỷ, thì cuốn sách đó đã trở nên Sử liệu rồi. Can thiệp vô Sử liệu là xâm phạm tính khách quan chân thực bắt buộc đòi hỏi của 1 Sử liệu đúng nghĩa và có giá trị
Ở đây, chúng ta mới thấy việc publishing 1 quyển sách cũ tốt nhất phải là dưới dạng scanning image.
Lẽ ra, khi publishing again sau hơn 4 chục năm, người publishing phải tôn trọng first publication. Mọi luận đoán, đánh giá, nhận xét, quan điểm v.v... phải thuộc về độc giả.
Nếu sau nhiều chục năm, anh publishing một quyển sách, một Sử liệu -như cuốn Chính Đề Việt Nam- mà giả như anh có nhiều tài liệu liên quan, có đủ các bằng chứng trong tay cho biết Tùng Phong là ai thì anh cũng chỉ được phép viết 1 post riêng rồi cậy đăng một nơi khác để bổ túc cho Sử liệu, tuyệt đối không được tự tiện can thiệp vô first publication khi tái bản. Đó là những tự tiện quá lố, làm giảm gần hết độ tin cậy của độc giả từ nội dung cho tới tên tác giả lẫn những thông tin kèm theo.
![]() |
| Mr. Nguyễn Văn Lục |
Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam?
loạt bài phỏng vấn 4 kỳ by Nguyễn Văn Lục khởi từ 12-4-2010Đúc kết - Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam? (I)
Nguyễn Văn Lục (NVL)Ngày 14-3-2010
Đúc kết hồ sơ Nghi án văn học: Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam?
Sau đợt phỏng vấn đợt đầu về các nhân sự liên quan xa gần đến chế độ Đệ nhất Cộng Hòa, đặc biệt liên hệ đến tác phẩm Chính Đề Việt Nam, người viết trở lại việc phỏng vấn các nhân sự trên để bổ túc hoặc làm rõ một số điểm cần thiết.
Trong lần này, đặc biệt có cuộc phỏng vấn cựu dân biểu Mặc Giao, người còn giữ được cuốn Chính Đề Việt Nam, ấn bản 1965 do chính tác giả Tùng Phong, Lê Văn Đồng gửi tặng.
Và sau cùng, dựa trên những câu trả lời phỏng vấn, người viết sẽ đúc kết toàn bộ các ý kiến như kết thúc hồ sơ này cho đến khi có những dữ kiện mới được phát hiện.
Ông Huỳnh Văn Lang (HVL)
(NVL): Ông nghĩ gì về bài viết trên Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng bị “thất sủng” chỉ vì bất đồng chính kiến với ông Nhu và sau đó bị ông Nhu cho người theo dõi?
(HVL): Tôi không có theo dõi Thông Luận. Nhưng nếu quả thật Thông Luận viết ông Đồng phát biểu như thế thì không đúng sự thật. Cho đến cuối năm 1958 hay đầu năm 1959, ông Nhu còn cất nhắc ông Lê Văn Đồng lên làm Bộ Trưởng Canh nông, Cao Xuân Vỹ làm phó thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa.
Bất đồng chỗ nào tôi không thấy.
Sau này, ông Lê Văn Đồng còn được đề cử giữ chức Trưởng phòng tổ chức, chức vụ lãnh đạo đứng hàng đầu của đảng Cần Lao.
Toàn là bịa.
(NVL): Ông Cao Xuân Vỹ giải thích về việc này cho rằng ông Đồng từ chức Bộ Trưởng Canh Nông là vì có vấn đề lem nhem về một vụ cho phép cắt gỗ? Ông nghĩ thế nào?
(HVL): Giữa việc bất đồng chính kiến và việc lem nhem là hai chuyện khác nhau. Thất sủng vì lem nhem thì không đồng nghĩa với bất đồng chính kiến. Đó chỉ là một cách bào chữa.
Về việc ai là tác giả Chính Đề Việt Nam, tôi mong là anh phải làm cho rõ vụ này một lần nữa. Phần tôi khẳng định một lần nữa Lê Văn Đồng không có đủ khả năng viết về chính trị văn hóa nói chi đến những truyện cao siêu như hoài bão, vision.
Tôi sẽ copy cho anh thư ông Nhu gửi cho tôi trong đó, ông giải thích cho tôi đảng Cần Lao là gì? Anh đọc anh sẽ thấy cái style của ông Nhu để in case anh có dịp so sánh sẽ rất dễ dàng.
Tôi nhắc lại là đầu năm 1958, ông Nhu có quyết định tập trung các nhánh Cần Lao lại làm một để ông trực tiếp điều khiển và việc Điều Hành Trung Ương gồm 5 phòng mà Tổng bí thư là ông Ngô Đình Nhu.
‒ Phòng một: Hành Chánh do ông Phạm Văn Nhu, cựu Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng phòng, luật sư Trần Văn Trai phụ tá.
‒ Phòng hai: Nghiên cứu, tuyên huấn do Nguyễn Như Nguyện làm trưởng phòng, phụ tá là Lương Như Úy. (Hai ông này sau đi làm Tỉnh trưởng.)
‒ Phòng 3: Tổ chức do Lê Văn Đồng làm trưởng phòng có Thái Mạnh Tiến phụ tá.
‒ Phòng 4: Lúc đầu do ông Đỗ La Lam và Cao Xuân Vỹ, sau đến lượt tôi, Huỳnh Văn Lang và Bùi Kiến Thành (du học Mỹ về) đảm trách.
‒Phòng 5: Tình báo và kiểm tra do Bác sĩ Trần Kim Tuyến làm trưởng phòng, ông Trần Trung Dung phụ tá.
(NVL): Mới đây nhất, cựu Dân biểu Hạ Nghị Viện Mặc Giao có cho biết là ông đã nhận được một cuốn Chính Đề Việt Nam do chính tác giả Tùng Phong, tức Lê Văn Đống biếu tặng? Ông nghĩ sao về việc này?
(HVL): Tôi phải nói với anh một lần nữa, tôi không muốn nói xấu một đồng chí (Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng). Nhưng một người như anh Lê Văn Đồng không đủ khả năng viết một bài về văn hóa, lịch sử, chánh trị thì làm sao viết cả một cuốn sách như Chính Đề Việt Nam.
Về câu hỏi của anh, tôi xin trả lời là tôi không nhận được cuốn sách Chính Đề Việt Nam in năm 1965.
Ông Cao Xuân Vỹ (CXV)
(NVL): Xin hỏi ông lúc ông Lê Văn Đồng đứng ra in sách Chính Đề năm 1965, sau đó ông Lê Văn Đồng có biếu tặng ông cuốn sách ký tên tác giả Tùng Phong không?
(CXV): Không, tôi không nhận được cuốn sách nào cả.
(NVL): Ông không thấy việc một đồng chí viết một cuốn sách đầu tay lại không biếu tặng một đồng chí là một điều khác thường sao?
(CXV): Lúc bấy giờ, chúng tôi không để ý, thấy ông Đồng có ra được cuốn sách dịch lại tài liệu của ông Ngô Đình Nhu là điều mừng rồi. Ông ấy có để tên Tùng Phong thì cũng không ai thắc mắc gì cả. Chẳng lẽ đề tên ông Ngô Đình Nhu?
(NVL): Trong Thư mục cuốn Chính Đề Việt Nam, có ghi tất cả 46 đầu sách tham khảo, ông thường gần gũi ông Ngô Đình Nhu, ông có thể nói rõ hơn về vấn đề tài liệu này ra sao?
(CXV): Tôi phải nói với anh ông Nhu là một con mọt sách. Trong phòng ông chất đầy sách vở tài liệu.
(NVL): Ông có thể nhớ lại căn phòng làm việc ấy như thế nào? Có lớn lắm không?
(CXV): Không phải chỉ là phòng làm việc mà phải nói đấy là một cái thư viện nhỏ, cơ man nào là sách. Tôi nói riêng anh điều này, ông ấy thường nhờ các sứ quán cung cấp sách vở, tài liệu cho ông ấy. Chẳng hạn, ông ấy yêu cầu lãnh sự của mình ở Hồng Kông cung cấp tất cả tài liệu về Mao Trạch Đông cũng như cộng sản Tàu gửi về cho ông ấy.
Ông Đồng dù có muốn đọc sách, làm sao có đủ sách như thế để đọc?
Ông Nhu là con người thông minh và cần mẫn nên khi có một chính khách nào đến Việt Nam như Quốc Vương Thái Lan chẳng hạn, ông liền yêu cầu Tòa đĐi sứ ở nơi ấy gửi tài liệu của vị chính khách ấy để ông nghiên cứu trước khi Tổng Thống Diệm gặp vị khách.
(Ông Cao Xuân Vỹ tâm sự) Tôi nhiều khi đến khổ với ông ấy. Mỗi khi ông đọc được một cuốn sách gì hay, buổi tối ông gọi tôi vào “giảng” cho nghe. Ông còn bắt tôi phải có cuốn sổ để ghi những gì ông nói. Ông nói, “anh phải học, phải ghi lại để mà truyền lại cho người khác.” Còn nhớ khi đi săn với ông, lúc ngồi rình mồi, ông nghĩ được điều gì, ông cũng bắt tôi ghi lại.
(NVL): Ông ở gần ông Ngô Đình Nhu như vậy mà lúc chạy sang đây không mang được bất cứ tài liệu nào của ông Ngô Đình Nhu?
(CXV): Không mang được gì cả, ngoài một tập tài liệu khoảng 300 trang ghi chép về chủ thuyết Nhân vị và về Ấp Chiến Lược do ông Nhu thuyết giảng. Nếu muốn, anh mượn lại anh Minh vì tôi đã đưa cho anh Minh sử dụng.
(NVL): Những tiết lộ về thư viện sách của ông Ngô Đình Nhu khá đặc biệt cho việc tìm hiểu ai là tác giả Chính Đề Việt Nam, ngoài ra ông còn điều gì cần nói thêm nữa không?
(CXV): Tôi rất mừng là nay còn có một người như anh để tâm tìm hiểu cuốn Chính Đề Việt Nam này đến nơi đến chốn. Phải nói tôi mừng lắm. Nhất là các anh những người trẻ nên phổ biến rộng rãi tài liệu này.
Tôi nói thêm một chi tiết này nữa; khi mà các ông Đỗ La Lam, Phan Xứng, Lê Văn Đồng đến nhà tôi để rồi quyết định cho in lại năm 1988 thì có xảy ra xích mích giữa ông Đỗ La Lam và ông Lê Văn Đồng.
(NVL): Ông có thể cho biết rõ nguyên nhân sự xích mích giữa hai người nhân vụ tái bản sách?
(CXV): Những bài viết của ông Nhu thì thường được giao cho ông Đỗ La Lam đăng báo Cách Mạng Quốc Gia, vì thế ông Đỗ La Lam là người biết rõ các tài liệu của ông Nhu. Khi biết cuốn sách Chính Đề Việt Nam bị cắt bỏ Chương về Chủ thuyết nhân vị và Ấp Chiến Lược, một vấn đề quan trọng và một vấn đề ấp ủ của ông Ngô Đình Nhu, ông Đỗ La Lam không bằng lòng. Thế là hai người có xích mích với nhau vì ông Lê Văn Đồng đã bỏ chương này ra.
(NVL): Ông còn muốn nói thêm gì về con người của ông Lê Văn Đồng?
(CXV): Phải nói ông Lê Văn Đồng có nhiều mặt. Ông ấy khoe với tôi làm cho C.I.A. trước khi ông Diệm về nước. Sau 1963, lại làm việc cho ông Thiệu. Sau 1975 vẫn làm việc cho C.I.A.
(NVL): Ông có biết rõ ông Đồng làm việc gì cho C.I.A. không?
(CXV): Tôi không hỏi, chỉ nghe ông ấy nói thế thôi.
Ông Lê Châu Lộc (LCL)
(NVL): Xin nhắc lại câu hỏi lần trước, khi ông và ông Lê Văn Đồng gặp nhau ở Thượng Nghị Viện, 1971, ông Lê Văn Đồng đưa cuốn sách Chính Đề Việt Nam tên Tùng Phong hay đưa một tập tài liệu dịch?
(LCL): Ông không tặng sách mà đưa một tập tài liệu và còn nói rõ ràng, đây là tài liệu dịch ra từ bản tiếng Pháp của ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Tôi xin nhắc lại, một tập tài liệu dịch. Nói một cách logique nếu ông Đồng là tác giả thì tại sao mất công viết ra tiếng Pháp rồi nay ngồi dịch lại?
Qua những lần nói chuyện với anh lần trước thì tôi mới nhớ ra trong tập “Kỷ yếu Thượng Nghị Viện”, trong đó có một trang tiểu sử của Lê Văn Đồng. Ông Lê Văn Đồng có ghi là: Chính Đề Việt Nam, Tùng Phong.
Tôi góp ý với anh là phải trả cái công của ông Lê Văn Đồng là người trách nhiệm dịch tài liệu ra tiếng Việt và được coi như một người Éditeur của tập sách ấy. Ông có để Tùng Phong cũng được, vấn đề là nội dung cuốn sách là của ông Nhu. Giả dụ ông Nhu còn sống thì cũng để cho các ông ấy dịch và in ấn ra.
Vấn đề là tập tài liệu đó được phổ biến.
Nay có lẽ điều quan trọng là có người nói truyện “tình nghĩa” với bà Lê Văn Đồng thì hy vọng mọi chuyện sẽ được ổn thỏa.
Ông Trần Xuân Kiên, Thông Luận
Có liên lạc nhiều lần sang Luân Đôn. Nhưng rất tiếc không có ai trả lời điện thoại.
Ông Phạm Văn Lưu
Ông Phạm Văn Lưu, tiến sĩ Sử Học, đại học Monash là một giáo sư đặc biệt lưu tâm nghiên cứu đến nền Đệ nhất Cộng hòa; ông là đồng tác giả các cuốn: Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam 1954-1963, với tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn. Ông còn là tác giả cuốn Biến cố Chính trị Việt Nam Hiện đại.
Và ông cũng là người có bài viết liên quan đến cuốn Chinh Đề Việt Nam. Rất tiếc cho đến nay, người viết chưa liên lạc được vì anh hiện ở xa.
Thân gửi anh Lục
Hiện tôi đang ở Bắc Kinh, rồi phải đi vài nơi nữa trước khi qua Nam Hàn. Khoảng cuối tháng, tôi về lại sẽ viết thư cho anh sau.
Thân mến
Lưu
Ông Đỗ La Lam
Ông Đỗ La Lam là nhân vật hàng đầu có liên hệ gần gũi với ông Ngô Đình Nhu trong các hoạt động chính trị. Theo lời cô Phương Thảo, con gái của ông. Ông năm nay 86 tuổi, ở Louisana, cách chỗ ông bà Lê Văn Đồng 55 dặm. Ông có một số tập Chính Nghĩa mà cô Phương Thảo hứa sẽ gửi cho người viết. Hồi còn ở Việt Nam, trước 1954, ông là giáo sư trung học ở Đà Lạt vì thế quen biết ông Ngô Đình Nhu. Khoảng năm 1950, ông đã theo ông Nhu đi các nơi hoạt động, đặc biệt ra Bắc mở các lớp về Xã Hội Học cho một số cán bộ, các sinh viên Hà Nội. Khi ra tờ báo Xã Hội thì ông Ngô Đình Nhu giao cho ông Đỗ La Lam trông coi. Sau đó, ông Đỗ La Lam làm chủ nhiệm tờ Cách Mạng Quốc Gia cho đến năm 1963.
Theo ông Cao Xuân Vỹ cũng như ông Huỳnh Văn Lang, ông Đỗ La Lam là người nắm giữ nhiều tài liệu của ông Ngô Đình Nhu. Với sự giúp đỡ của con rể và đặc biệt cô Phương Thảo ông đọc tất cả các bài phỏng vấn (của người viết – NVL, PG chú) liên quan đến Chính Đề Việt Nam; đã đọc xong, nhưng ông vẫn từ chối cho phỏng vấn. Tôn trọng quyết định của ông, người viết cũng nhờ các ông Cao Xuân Vỹ và Huỳnh Văn Lang thuyết phục ông Đỗ La Lam tiết lộ cho biết những chi tiết liên quan đến cuốn Chính Đề Việt Nam.
Nếu có kết quả gì, sẽ xin công bố.
Ông Đỗ Như Điện (ĐNĐ)
(NVL): Có thể coi ông là người thuộc thế hệ “sau Ngô Đình Diệm”, không có liên hệ trực tiếp với chế độ độ Đệ Nhất Cộng Hòa, và lại là người năng động trong mọi hoạt động của cộng đồng hải ngoại. Tôi muốn trao đổi với ông một lần nữa về cuốn sách Chính Đề Việt Nam, đặc biệt về việc tái bản cuốn sách này ở hải ngoại.Vậy, thưa ông nghĩ gì về những ý kiến giữa hai phía về cuốn sách?
(ĐNĐ): Thưa anh, có điều này phải trình bày với anh là người ta nói nhiều về ai là tác giả Chính Đề Việt Nam mà đã quên một điều tối ư quan trọng mà theo tôi thì nếu hiểu được điều này thì tìm ra được câu trả lời cho bài toán của vấn đề.
(NVL): Thưa đó là điều gì?
(ĐNĐ): Đó là trường hợp các ông Cao Xuân Vỹ, Đỗ La Lam, Phan Xứng và Lê Văn Đồng. Họ đều là người của một đảng đang cầm quyền. Một đảng có kỷ luật đảng, có tổ chức, có phân công, có trách nhiệm hoạt động cho một mục đích chung. Họ không quyết định một mình, họ làm theo chỉ thị của đảng.
Sau 1963, đảng ấy bị tan rã, lãnh tụ bị sát hại. Lúc đó chắc chắn có nhiều người trong số những vị ấy gặp khó khăn, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Sau một thời gian ngắn họ đã liên lạc lại với nhau. Sự kiện ông Đồng cho in cuốn Chính Đề Việt Nam tại nhà in Đồng Nai của ông Trương Vĩnh Lễ, tôi cho là một dấu hiệu tốt.
Trên thực tế, Trong Quốc hội thời Đệ Nhất Cộng Hoà không có dân biểu thuộc Cần Lao Nhân vị Cách mạng Đảng (Hội CLNVCMĐ, chính danh nhưng bí mật trong tổ chức.) Lúc đó đa số dân biểu thuộc một tổ chức ngoại vi của CLNVCMĐ, “Phong trào Cách mạng Quốc gia” mà ông Ngô Đình Diệm là thủ lãnh danh dự. PTCMQG có liên quan chặt chẽ với “Liên đoàn Công chức Cách mạng Quốc gia”. Người lãnh đạo của CLNVCMĐ là ông Ngô Đình Nhu và cũng chính ông Nhu chỉ đạo PTCMQG Nam phần; Ở Cao nguyên và miền Trung, PTCMQG nằm trong tay ông Ngô Đình Cẩn.
--------------------------------------------------------------------------------
PG chú: đây là dòng chú thích ảnh. Bức ảnh, tôi sẽ cố tìm và publish sau
DCVOnline Trích dịch “The Pentagon Papers”, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960”, Section 2, “Failure of the geneva settlement”, Boston: Beacon Press, 1971.
Giấy phép hoạt động của Hội “Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng” (02/09/1954). Nguồn: Tài liệu của Chính Đạo trong ‘Việt Nam Niên biểu’, Tập B
--------------------------------------------------------------------------------
(NVL): Ý kiến của ông có thể mở ra một câu trả lời ngoài những bằng chứng pháp lý của tác giả cuốn sách?
(ĐNĐ): Vâng, có thể là như vậy. Trong các ông ấy, không ai lưu tâm đến vấn đề ai là tác giả quyền sách mà chỉ tha thiết làm cách nào để nội dung cuốn sách được “sống lại” và tư tưởng của người lãnh đạo của họ được lưu truyền. Tôi đọc qua các ý kiến của họ trong bài phỏng vấn của anh, tôi cảm thấy được điều đó một cách xác tín.
(ĐNĐ): Nhưng qua bài phỏng vấn này mà anh đã cho tôi coi lại, trước khi trả lời anh, tôi có một thắc mắc là, Có phải anh “gài bẫy” họ trong câu hỏi ‘Có nhận được sách tặng của ông Lê Văn Đồng hay không?’ Và cả ba ông đều trả lời là không nhận được. Anh muốn tìm một ý nghĩa nào đó trong việc không nhận được sách này?
(NVL): Xin cải chính là tôi không có ý “gài bẫy” như anh suy nghĩ. Nhưng tôi cố gắng thực hiện đúng vai trò của một người làm phỏng vấn. Vì thế, khi nhận được tin ông Mặc Giao nói có nhận được sách tặng, tự nhiên trong đầu tôi nảy sinh ra câu hỏi. Vì đã nói chuyện hằng nhiều giờ với các nhân vật trong bài phỏng vấn trước và, không thấy ai nói về chuyện sách tặng này nên tôi muốn tìm hiểu thì đúng hơn.
Tôi lấy một vài trường hợp cụ thể để minh chứng cho rõ hơn và sẽ phải dài dòng một chút. Chẳng hạn khi ông Lê Châu Lộc nói có được đọc tài liệu này do ông Võ Văn Hải đưa cho đọc. Trong khi đó, tôi biết là tập tài liệu của ông Nhu bằng tiếng Pháp, viết tay đã được ông Cao Xuân Vỹ trao cho ông Lê Văn Đồng để dịch. Tôi bèn hỏi một vài câu hỏi hầu như “vô tội vạ” để xem anh Lê Châu Lộc trả lời như thế nào?
Tôi đã hỏi: “tập tài liệu anh đọc, thưa anh, là bản viết tay hay bản đánh máy?” Ông Lê Châu Lộc trả lời là bản đánh máy. Nếu ông Lộc trả lời tôi chính mắt ông ấy đọc tập tài liệu viết tay, lúc đó tôi sẽ lý giải ra sao về việc có hai tập tài liệu viết tay? Và cứ bằng cách đó, tôi đã dò xét độ trung thực “tính chính xác” của ông Lê Châu Lộc trong vài trường hợp khác. Cũng cách thức như thế tôi đặt ra những câu hỏi cho các ông Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Văn Minh, Cao Xuân Vỹ.
Tôi phải thú nhận, tôi “thua cuộc”. Chẳng hạn tôi dùng cùng một câu hỏi, hỏi họ nhiều lần để thử trí nhớ của họ, hoặc hỏi mọi người cùng một câu hỏi xem họ trả lời ra sao? Rồi so sánh những câu trả lời của họ như trường hợp ông Huỳnh Văn Lang, một người có thói quen giữ tài liệu và ông Cao Xuân Vỹ, chỉ theo trí nhớ. Nhiều điều họ trả lời ăn khớp với nhau. Riêng ông Tôn Thất Thiện có đôi chút khác biệt trong ba bài viết của ông. Phần ông Cao Xuân Vỹ có một đôi chỗ hơi lấn cấn về vấn đề trí nhớ.
Nhưng nói chung, tôi phải xác định điều này: Họ là những nhân vật có tính cách chứng nhân. Những điều họ nói ra, độ trung thực là rất cao.
Tin hay không tin là tùy mỗi người đọc thôi. Cứ lý luận có thể không tin. Nhưng trực diện với những điều họ xác tin thì không thể không tin họ. Tôi cảm thấy bất lực vì có thể có nhiều người sẽ không chấp nhận lý lẽ của họ.
(NVL): Bây giờ xin trở lại chuyện xuất bản lần thứ 1, 1965 và chuyện tái bản ở Hải ngoại 1988 và 2009, thưa anh, anh có nhận xét gì về ba lần xuất bản này?
(ĐNĐ): Hai lần xuất bản đầu là quan trọng vì ông Lê Văn Đồng còn sống và có ý nghĩa khác nhau. Lần đầu coi như tự ý ông Lê Văn Đồng quyệt định in ấn. Và quan trọng là cho biết chính ông là tác giả chính đề Việt Nam trong lời ký tặng anh Mặc Giao.
Lần tái bản ở hải ngoại thì khác. Có sự họp bàn của một số người trong đó tôi biết 4 người là các ông Đỗ La Lam, Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng và Phan Xứng. Lần xuất bản này mang tính chất “Đảng” rõ rệt. Tên bút hiệu Tùng Phong chỉ là bề ngoài, có thể tên gì cũng được.
Tùng Phong được hiểu là đại diện tiếng nói của Đảng. Đảng núp sau Tùng Phong.
(NVL): Xin ông cho biết đã căn cứ vào đâu để quả quyết như thế?
(ĐNĐ): Tôi đã gửi cho anh Lời Nhà xuất Bản và lá thư của ông Phan Xứng xin anh đọc kỹ lại. Căn cứ vào hai chứng liệu này, nói đến tác giả là điều không cần thiết. Ngay cho dù ông Nhu hay ông Đồng viết thì đây vẫn là tài liệu chung của Đảng.
Đảng đứng trên cá nhân trong trường hợp này. Đây là tài sản trí tuệ của Đảng Cần Lao mà thôi.
(NVL): Vâng tôi sẽ đọc kỹ tất cả tài liệu. Xin cám ơn ông trong việc đóng góp ý kiến này. Tuy nhiên, trên thực tế với bằng cớ rõ ràng căn cứ vào chữ ký Tùng Phong, rồi chữ ký Lê Văn Đồng, cùng một tuồng chữ, ghi rõ ngày tháng, ghi rõ giấy phép xuất bản của bộ Thông Tin. Điều đó xác nhận Tùng Phong hay Lê Văn Đồng là tác giả cuốn sách Chính Đề Việt Nam. Thẩm quyền tinh thần cũng như pháp lý về cuốn sách xác định ông Lê Văn Đồng là tác giả.
(ĐNĐ): Tôi không phủ nhận điều này, tuy nhiên đối với một người đã chết như ông Ngô Đình Nhu, nếu muốn lợi dụng tình thế lúc bấy giờ để hợp thức hóa một một tài sản trí tuệ của người khác thì quả thực không khó khăn gì.
Cá nhân tôi tin rằng ông Lê Văn Đồng có một mối tương giao rất thân thiết và sâu đậm với ông Ngô Đình Nhu và được sự tin cẩn như người “trong cuộc” “người nhà” nên được ủy thác giữ gìn tài liệu nghiên cứu này. Và có thể ông Lê Văn Đồng bắt buộc phải đứng tên để có thể dễ dàng cho việc xin phép xuất bản.
Có một điều khi tiếp xúc với các vị tiền bối thì hầu như tất cả chỉ muốn giữ vững tinh thần yêu nước, thương dân, nung nấu ý chí, tìm phương cách loại trừ cộng sản để đưa dân tộc tiến lên. Tóm lại như trong Chính Đề Việt Nam thì đặt vấn đề tương lai lâu dài hàng trăm năm tới của cả dân tộc chứ không phải hạn hẹp trong một biến cố hay giai đoạn lịch sử hay trong một chính đảng.
Đó là điều làm tôi đặc biệt bỏ công nghiên cứu tài liệu này.
(Còn tiếp)
Đúc kết - Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam? (II)
Nguyễn Văn Lục15/3/2010
Về cuốn Chính Đề Việt Nam in lần đầu tiên, năm 1965
Sau loạt bài phỏng vấn của tác giả liên quan đến tác phẩm Chính Đề Việt Nam, Tùng Phong. Người viết có dịp phỏng vấn ông Mặc Giao, người mà hiện nay còn giữ được nguyên bản cuốn Chính Đề Việt Nam, in năm 1965.Phỏng vấn ông Mặc Giao
Mặc Giao, tên thật là Phạm Hữu Giáo, dân biểu Hạ Nghị Viện 1967-1971. Ông đảm nhận chức vụ Tổng Thư ký Hạ Nghị Viện. Sau đó, ông làm việc ở Giám Sát Viện. Trong giai đoạn Hòa Đàm Ba Lê lần thứ hai, ông được cử tham gia trong phái đoàn Việt Nam mà trưởng phái đoàn là Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên. Cũng trong giai đoạn này, ông kiêm nhiệm làm việc bên tòa đại sứ VNCH với chức vụ Sứ Thần, chỉ đứng sau đại sứ, tại Ba Lê cho đến năm 1975.
(NVL): Thưa ông cho biết làm sao anh có được tác phẩm Chính Đề Việt Nam, in năm 1965, nguyên bản?
(MG): Tôi nhận được cuốn sách gửi đến văn phòng Hạ Nghị Viện qua đường bưu điện. Trong sách ở trang đầu có ghi: Tác giả kính tặng, ký tên Tùng Phong và dấu triện. Hai trang sau có ghi: Thân tặng ông Mặc Giao, Dân Biểu quốc hội. Sài Gòn ngày 18/1/1968. Lần này có chữ ký là Lê Văn Đồng. Hai tuồng chữ đều giống nhau và cũng một bút mực.
(NVL): Khi nhận được cuốn sách, anh có biết tác giả Tùng Phong chính là Lê Văn Đồng không ạ?
(MG): Tôi hoàn toàn không biết; chữ ký Lê Văn Đồng không rõ nên không cho phép tôi kết luận là Tùng Phong cũng là Lê Văn Đồng. Mãi sau này dò la mới biết Tùng Phong là Lê Văn Đồng.
(NVL): Ông có thể nói rõ hơn bằng cách nào anh còn mang theo và giữ được cuốn sách sau gần nửa thế kỷ mà nay bìa sách đã bị ố vàng?
(MG): Sau khi chuyển sang làm sứ thần tòa đại sứ Việt Nam ở Ba Lê, tôi được phép mang vợ con theo, đồng thời chuyển một số đồ đạc và một số sách vở từ Việt Nam sang Ba Lê. Trong đó còn giữ được cuốn sách Chính Đề Việt Nam.
(NVL): Thật hi hữu. Nhưng thưa anh, với vai trò Tổng Thư ký Hạ Nghị Viện, ông có dịp gặp ông Lê Văn Đồng ở bên Thượng Viện và trao đổi về cuốn sách Chính Đề Việt Nam của tác giả không?
(MG): Với vai trò của tôi ở Hạ Nghị Viện, tôi đã có nhiều dịp gặp ông Lê Văn Đồng. Nhất là các buổi họp với các ông Nguyễn Văn Ngân, Hoàng Đức Nhã, tướng Nguyễn Khắc Bình với một số nhân vật chính trị trong đó có ông Lê Văn Đồng để bàn về những vấn đề ngoài quốc hội như cải tổ hành chánh, hay việc chuẩn bị thành lập Đảng Dân Chủ. Nhưng tôi không bao giờ nghe ông Lê Văn Đồng đề cập đến cuốn Chính Đề Việt Nam hay tự xác minh mình là tác giả cuốn sách đó.
(NVL): Ông hiểu thế nào về việc “kín tiếng” này?
(MG): Tôi chỉ nhắc lại sự việc lúc ấy nó là như thế. Nhưng không thể đưa ra lời nhận xét nào cả.
(NVL): Viết một cuốn sách, trân trọng tặng một người ít tuổi hơn cả thế hệ, nhưng không hề đề cập tới nội dung cuốn sách và cũng không tự “bày tỏ” về mình, ông nghĩ thế nào về sự kiện này?
(MG): Thời điểm lúc đó, tôi không để ý tới chuyện đó, cũng không thắc mắc gì về những tiểu tiết ấy. Bây giờ anh hỏi thì không có sẵn sàng câu trả lời. Tôi nhắc lại, tôi không lưu tâm gì lúc được tặng cuốn sách. Người ta cho cuốn sách với tên hiệu Tùng Phong. Mình chẳng biết Tùng Phong là ai cả. Mình nhận như thể một hảo ý của tác giả. Chỉ có vậy.
(NVL): Ông Đồng có bày tỏ quan điểm hay phê phán về nền Đệ nhất Cộng hòa, về ông Nhu, ông Diệm hay không, thưa ông?
(MG): Theo tôi thì có vẻ như ông ấy muốn né tránh đề cập đến Đệ nhất Cộng hòa. Không biết có phải do mặc cảm quá khứ hay không? Ông không muốn nói nhiều. Cũng có đôi lúc ông đề cập đến ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, nhưng với sự tôn kính (respect).
(NVL): Qua những cuộc gặp gỡ và nhiều lần tiếp xúc với ông Lê Văn Đồng, ông có thể có nhận xét gì về con người, về sự hiểu biết và ngay cả những viễn kiến hoài bão chính trị của ông ấy không?
(MG): Theo nhận xét của riêng cá nhân tôi, ông Lê Văn Đồng là người ít nói, có tư tưởng, có lý luận, tương đối thâm trầm. Nhưng tầm hiểu biết của ông giới hạn trong những vấn đề cụ thể phải giải quyết ở vai trò của một Thượng Nghị sĩ. Ông không có đi xa hơn những giải pháp trước mắt. Ông không hề bàn đến những vấn đề đường lối phát triển đất nước, vấn đề cộng sản và những giải pháp đề ra. Ông cũng không thể đưa ra những phương hướng chỉ đạo của chính quyền quốc gia cụ thể phải làm gì. Nói chung, không thấy ông phát biểu gì tương tự viễn kiến chính trị của một nhà lãnh đạo.
(NVL): Có phải giữa một ông Lê Văn Đồng trong khi làm việc và những phần khảo luận và viễn kiến chính trị trong cuốn sách của ông tác giả Tùng Phong (Lê Văn Đồng) có một khoảng cách?
(MG): Theo tôi nghĩ, có một khoảng cách giữa môt nhà làm chính trị và một nhà nghiên cứu chính trị. Giữa một Lê Văn Đồng nghị sĩ và một Tùng Phong, nhà nghiên cứu đường lối chính trị trong Chính Đề Việt Nam.
(NVL): Trong cuốn Chính Đề Việt Nam, ngoài bút hiệu và chữ ký nhận mình là tác giả, ông Lê Văn Đồng có viết một Lời nói đầu, hay phi lộ, hay viết xong ngày tháng mấy, hay viết tặng ai đó như tặng các chiến hữu, hay một cái gì tương tự để chứng tỏ rằng ông là tác giả hay cắt nghĩa tại sao ông viết cuốn Chính Đề như thông thường các tác giả thường làm?
(MG): Tôi đã xem lại rồi anh ạ. Rất tiếc, không có Lời nói đầu, tác giả đi thẳng vào cuốn sách.
(NVL): Về mặt pháp lý, chính thức, anh có thấy rằng Tùng Phong, Lê Văn Đồng là tác giả Chính Đề Việt Nam?
(MG): Tôi đồng ý với anh tất cả nếu chỉ căn cứ vào cuốn sách mà tôi hiện đang có trong tay. Tùng Phong, chính là tác giả Chính Đề Việt Nam. Nhưng nay, nghĩ lại, rà xét lại mọi yếu tố liên quan. Tôi cảm thấy có điều gì chưa ổn từ đó cho phép tôi có những “nghi ngờ” bởi vì tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc với con người thật của Lê Văn Đồng với tư cách Nghị sĩ và nay với tư cách nhà nghiên cứu chính trị tên Tùng Phong.
Sự nghi ngờ ấy, anh cứ coi như một phản xạ gần bản năng mặc dầu không lý giải được bằng lý luận. Nói riêng với anh, trong anh em lúc bấy giờ đều dè dặt với ông Lê Văn Đồng, vì người ta nghi ngờ ông còn cộng tác với một thế lực khác không phải cộng sản.
(NVL): Xin được nói một câu như kết luận bài phỏng vấn này là người viết bài này cũng như các độc giả đang theo dõi bài phỏng vấn coi tài liệu anh có được về cuốn Chính Đề Việt Nam như một tài liệu quý giá giúp đưa đến một một hướng mới về ai là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Một lần nữa, thay mặt độc giả, cám ơn ông.
(còn tiếp)
Đúc kết - Ai là tác giả cuốn Chính Đề Việt Nam? (III)
Nguyễn Văn Lục16-03-2010
(http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7328)
Lần xuất bản đầu tiên 1965
Trong lần xuất bản này in tại nhà in Đồng Nai của ông Trương Vĩnh Lễ, một nhân vật thân cận với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, từng là Chủ Tịch Quốc Hội.
Ông Mặc Giao còn giữ được nguyên bản sách Chính Đề Việt Nam xuất bản lần đầu do ông Tùng Phong, tức Lê Văn Đồng ký tặng. Trong trang 1, ông Tùng Phong viết rõ ràng, Tác giả kính tặng.
Sau đó, ông Tùng Phong viết thêm một lần nữa mà nội dung như sau: Thân tặng ông Mặc Giao, Dân biểu Quốc Hội. Sàigòn ngày 18 tháng 1, 1968.
Trên bìa sách cũng như trên gáy sách có ghi chú: Sàigòn, Nhà xuất bản Đồng Nai, năm 1965.
Bên trong có ghi giấy phép của Bộ Thông tin giấy phép đề ngày 10-3-1965. Triển hạn ngày 14-6-1965. Tác giả giữ bản quyền 1965.
Căn cứ vào những dữ kiện trên thì quả thực không còn gì phải bàn cãi nữa, vì sách có giấy phép, có tên tác giả và có chữ ký tác giả đề tặng hẳn hoi.
Nhưng trong lần xuất bản đầu tiên, người viết đã hỏi đi hỏi lại ông Mặc Giao kiểm soát dùm xem có Lời nhà xuất Bản hay Vài lời mở đầu của chính tác tác giả không? Nếu có thì việc xác minh ai là tác giả đích thực của Chính Đề Việt Nam được dễ dàng hơn nhiều. Ông Mặc Giao cho biết không có lời của nhà xuất bản cũng không có lời mở đầu theo thông thường của một cuốn sách trong giai đoạn thập niên 1960-1970.
Thật đáng tiếc.
Phần ông Đỗ Như Điện đã đưa ra một nghi vấn là đối với một người đã chết như ông Ngô Đình Nhu thì quá dễ dàng để một người nào đó tự nhận mình là tác giả khi nắm trong tay tập tài liệu do mình dịch và đưa in ấn, xin giấy phép một cách chính thức?
Lần tái bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ, năm 1988
Tuy nhiên, trong lần tái bản lần này, có thêm một số dữ kiện nổi bật có thể là yếu tố quyết định bắt buộc phải đặt lại vấn đề ai là tác giả Chính Đề Việt Nam một lần nữa.
Trong lần tái bản 1988, có đầy đủ lời nhà xuất bản ghi rõ công trình biên soạn này do đâu mà có với lời lẽ khẳng định như sau:
“Nhà xuất bản Hùng Vương hân hạnh giới thiệu với quý vị độc giả cuốn Chính Đề Việt Nam được tái bản lần đầu tiên ở Hải Ngoại. Tập tài liệu nghiên cứu này do một nhóm chiến sĩ trong bộ phận nghiên cứu chính trị của Đệ nhất Cộng hòa soạn thảo để kính tặng các chiến sĩ vô danh của Cộng đồng Quốc gia Việt Nam. Cuốn sách đã được xuất bản vào thời Đệ nhất Cộng hòa, nhưng chỉ lưu hành giới hạn trong tầng lớp cán bộ lãnh đạo.”Nội dung trên tóm tắt lại trong một câu: tác giả là một nhóm chiến sĩ soạn thảo. Không có vấn đề một người, một tác giả.
Kính cáo. Nhà xuất Bản Hùng Vương, Los Angeles, Mùa thu 1988
Cộng thêm vào đó, lá thư của ông Phan Xứng gửi các chiến sĩ một lần nữa gián tiếp khẳng định tập tài liệu này thuộc tài sản trí tuệ của Đảng Cần Lao hơn là của bất cứ cá nhân nào.
Phan XứngThư ông Phan Xứng gửi chiến hữu khi “Chính đề Việt Nam” được tái bản năm 1988
1628 Van Buren Ave St.Paul, MN55104 612-644.9755
L.A. ngày 16-12-1988
“Tái bản cuốn sách, trước tiên là để anh em chúng ta thông suốt hướng đi mà chúng ta sẽ theo, để đạt mục đích tranh đấu cuối cùng của chúng ta là Phát Triển Dân tộc.
Chúng ta cũng nhằm ba mục đích sau đây:
1- Quảng bá đường lối và mục đích tranh đấu của chúng ta, chung quanh chúng ta
2- Kiện toàn và mở rộng tổ chức của chúng ta ở Hải ngoại đồng thời để trắc nghiệm lòng nhiệt thành các chiến hữu của chúng ta.
3- Gây tài chánh để hoạt động mạnh hơn trong những ngày tháng sắp tới...
Thân ái
Phan Xứng
Cũng theo ông Cao Xuân Vỹ cho biết, việc tái bản lần thứ hai do quyết định và đồng ý “do 4 người chúng tôi và được giao cho ông Lê Văn Đồng và Phan Xứng tiến hành việc tái bản.”
Nếu ông Lê Văn Đồng là tác giả tập Chính Đề Việt Nam thì tại sao không lên tiếng cải chính trong lần tái bản này?
Tại sao ông im lặng? Tại sao ông chấp nhận một cách mặc nhiên việc biên soạn là do một nhóm chiến sĩ biên tập?
Sự im lặng đồng nghĩa việc xóa bỏ thẩm quyền tác giả là Lê Văn Đồng?
Lá thư nhà xuất bản cho thấy ông Lê Văn Đồng mặc nhiên chấp nhận tư cách thành viên của nhóm 4 người.
Và phải chăng, lần tái bản với lời nhà xuất bản xác định nhóm 4 người mới là quyết định chung thẩm ai là tác giả đích thực của tập sách Chính Đề Việt Nam?
Cả hai lần xuất bản đều có giá trị pháp lý. Nhưng theo nguyên tắc về luật, lần xuất bản thứ hai có giá trị hồi tố đối với lần thứ nhất. Có nghĩa là giá trị pháp lý của lần đầu không còn hiệu lực và phải công nhận đây không phải là cuốn sách do một người biên soạn mà do nhiều người biên soạn.
Lần xuất bản tập Chính Đề Việt Nam lần thứ ba, 2009 mà ông Đỗ Như Điện mới gửi cho người viết, ngoài bìa sách vẫn để tên hiệu Tùng Phong với lời xác nhận minh bạch và rõ ràng hơn như sau:
“Tập tài liệu bạn đang có trong tay là kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng một số phụ tá thân cận nhằm giúp những cán bộ Quốc Gia nắm vững con đường xây dựng và phát triển dân tộc”Đây là lần đầu tiên tên ông Ngô Đình Nhu được xác nhận là tác giả tập tài liệu Chính Đề Việt Nam, bên cạnh bút hiệu Tùng Phong.
Lời nói đầu cũng nhắc lại việc in ấn năm 1988 như sau:
“Năm 1988, tập tài liệu được tái bản tại Hoa Kỳ do một nhóm thân hữu đã cũng sát cánh bên nhau trong nhiều năm, trong ấy phải kể đến các ông Cao Xuân Vỹ, Lê Văn Đồng, Phan Xứng, Đỗ La Lam, và một số thân hữu khác.”Và ở phần cuối lời trần tình này, các vị chủ trương cho in lại lần thứ 3 cuốn sách này là ông Cao Xuân Vỹ cũng đo lường được có thể có sự phiền hà với cá nhân bà Lê Văn Đồng, đã viết:
“Điều mong ước sau cùng của chúng tôi là tập tài liệu này sẽ không là nguyên cớ cho bất kỳ phiền phức nào cho ai, dầu ở trong nước hay tại hải ngoại.”
Những lập luận ngoài văn bản của người viết bài này như phần đúc kết nghi án Ai Là Tác Giả cuốn Chính Đề Việt Nam
Tự thâm tâm, người viết bài này hy vọng phía bà Đồng, theo như chủ bút Thông Luận (ông Trần Xuân Kiên) cho biết, bà Đồng sẽ tiến hành vụ kiện ra trước tòa án Hoa Kỳ và như thế bà Lê Văn Đồng có cơ hội minh chứng trước tòa án rằng ông Lê Văn Đồng mới đích thực là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Mong là bà Lê Văn Đồng thực hiện điều này để mọi việc được sáng tỏ.
Người viết cũng bày tỏ hy vọng Thông Luận một lần nữa, vì công ích, công khai hóa vấn đề xác nhận ông Lê Văn Đồng là tác giả Chính Đề bằng văn bản tài liệu.
Trong khi chờ đợi, người viết xin đưa ra một số lập luận dựa trên các sự việc xét ra như một tiền đề cho một kết luận khả thể.
Người viết xin minh định là trong những điều kiện lịch sử của Việt Nam bị đô hộ và chiến tranh miên tục, đòi hỏi một văn bản “hạt nhân” rõ ràng và minh bạch không phải là một điều dễ dàng. Rất nhiều tác phẩm văn học, ngay cả sử học trở thành khuyết danh hay vô danh, hoặc mang nhiều nhan đề khác nhau này còn để lại nhiều dấu hỏi nhức đầu cho người đời sau.
Tác phẩm truyện Kiều, Chinh Phụ ngâm khúc, Thơ bà Huyện Thanh Quan, thơ của Hồ Xuân Hương,.. đều có những nghi vấn văn học chưa được sáng tỏ.
Lấy tỉ dụ cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí là công trình của một người hay là nỗ lực của cả dòng họ Ngô Thì? Ngày nay không có cách nào có bản thảo “nguyên thủy” của Hoàng Lê Nhất Thống Chí còn tồn tại. Và người ta phải bằng lòng với 14 bản chép tay mang nhiều nhan đề khác nhau như: An Nam Nhất Thống Chí, Hậu Lê Nhất Thống Chí.
Việc khai quật đi tìm lại ai là tác giả khuyết danh vì thế phải dựa trên nhiều yếu tố như địa lý, sử học, ngôn ngữ học và ngay cả nội dung của cuốn sách để tìm hiểu.
Những nguyên tắc trên cũng sẽ được áp dụng để người viết tìm hiểu Ai Là Tác Giả cuốn Chính Đề Việt Nam?
Như đã nói ở trên, mặc dầu tập sách Chính Đề Việt Nam đã có ấn bản in đầu tiên, với tên tác giả ngoài bìa. Nhưng tập sách này có nhiều vấn đề tồn nghi vượt ra khỏi khuôn khổ của chính tác giả.
Nguồn gốc lãnh tụ đảng của tập sách tài liệu
Vấn đề chính là họ ở trong một tổ chức, là những đồng chí, là những đảng viên trong một đảng chính trị với một lãnh tụ mà tầm nhận thức của vị lãnh tụ này có thể trở thành phát ngôn viên về các đề cương chính trị của đảng qua rất nhiều bài tham luận của vị lãnh tụ này.
Ông Đỗ Như Điện qua bài phỏng vấn đã muốn nhấn mạnh về điểm này.
Nhưng một lúc nào đó, quyền uy trong kỷ luật tổ chức Đảng bị phá vỡ phải chăng là yếu tố then chốt gây ra những rắc rối về tác quyền của cuốn sách này? Nếu như người thủ lãnh của đảng vẫn còn sống có thể ngày hôm nay chúng ta không phải mất công cho sự tranh tụng này.
Bởi vì hầu như thế giá hiểu biết chính trị của vị lãnh tụ này là điều không cần bàn cãi nữa và không thể bàn cãi. Ai ai cũng biết như vậy, cả người trong đảng lẫn ngoài đảng.
Danh tiếng đồn đại ra bên ngoài về sự quảng bác kiến văn của ông Ngô Đình Nhu vượt ra ngoài khuôn khổ của Đảng đến dân chúng ai cũng biết điều đó.
Người ta có thể chê trách ông Nhu thâm hiểm, độc đoán, nhiều thủ đoạn đến người Mỹ cũng lo ngại tìm cách hất cẳng ông.
Nhưng chưa một ai nghi ngờ về sự quảng bác kiến văn của ông.
Vì thế nên mới có nhiều người có liên hệ trực tiếp đến sự ra đời của tập sách này đã lên tiếng phản biện về tính chính danh của tác giả.
Người viết nghĩ rằng không thể không xét đến những tiếng nói tranh biện ngoài văn bản ấy.
Khi bài đăng trên Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng xác nhận chủ quyền tác giả của mình thì đã có sự lên tiếng đồng loạt của tất cả nhân sự có liên hệ.
Trong những tài liệu được phát tán trên Internet, người ta thấy xuất hiện bút hiệu Tùng Phong, bên cạnh đó mở ngoặc Ngô Đình Nhu trong Chính Đề Việt Nam.
Để bảo đảm uy tín của vị lãnh tụ, lần xuất bản thứ ba, họ đã công khai đề tên ông Ngô Đình Nhu và chấp nhận có thể có những phiền toái xảy đến.
Trong hai cuốn DVD do hội Ái Hữu người Việt Quốc Gia hải ngoại phát hành có Title: Hội Luận Chủ Quyền Quốc Gia Việt Nam và Nguy cơ Trung Cộng, các ông Lê Tinh Thông, người giới thiệu chương trình, Nguyễn Xuân Nghĩa, người điều hợp chương trình, các thuyết trình viên như Nguyễn Ngọc Tấn, Đỗ Như Điện, Ngô Đức Diễm đều mặc nhiên coi Chính Đề Việt Nam là của ông Ngô Đình Nhu.
Trong lời giới thiệu buổi Hội luận 01-11-2009, ông Lê Tinh Thông đã khẳng định, “Tập tài liệu này do ông cố vấn Ngô Đình Nhu soạn thảo vào khoảng năm 1960.”
Cũng trong Đặc San 2009: Chính Đề Việt Nam, Một viên ngọc quý một lần nữa coi Chính Đề Việt Nam mà tác giả không ai khác là ông Ngô Đình Nhu.
Trong DVD: Ngày Độc lập Quốc gia Việt Nam, các vị thuyết trình như ông Nguyễn Văn Châu, đại học Sorbonne, nhất là ông Phạm Văn Lưu trong phần trả lời của các tham luận viên, đại học Monash, Úc và ông Phạm Bình Thuận cũng cùng một quan điểm như các vị trên.
Ông Phạm Bình Thuận đã phân tích trình bày một cách minh nhiên nội dung cuốn Chính Đề Việt Nam, tác giả Ngô Đình Nhu.
Mặc dầu có sự nhìn nhận chính thức như thế, nhưng tất cả những vị mà người viết đã phỏng vấn đều sẵn sàng trả lời những thắc mắc và hợp tác hỗ trợ mục đích tìm hiểu rõ ai là tác giả Chính Đề Việt Nam.
Cho nên không thể võ đoán nói rằng có sự toa rập, đồng lõa để hại uy tín của ông Đồng được.
Cả ông Huỳnh Văn Lang lẫn ông Cao Xuân Vỹ đều không muốn nêu tên ông Lê Văn Đồng như một cơ hội để bêu xấu.
Theo ông Huỳnh Văn lang, “chúng tôi làm thế để làm gì đối với những người trên dưới 80 tuổi.” Ai cần cái danh vị gì ở cái tuổi ấy?
Nào phải một người mà tất cả, trừ ông Đỗ La Lam nhất định im lặng, tránh mọi tiếp xúc với người viết bài này, trong đó hẳn là do sự giận lẫy đến tránh mặt nhau, không muốn liên lạc nữa giữa ông Đỗ La Lam và ông Lê Văn Đồng.
Có hai người mà người viết tiếp xúc được thì xác nhận có một văn bản viết tay bằng tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu mà bản Chính Đề Việt Nam chỉ là bản dịch. Hiện nay, truy tìm được bản viết tay tiếng Pháp là một điều hầu như vô vọng.
Về vấn đề này, trong khi tâm sự với người viết sáng nay, lần chót, ông Cao Xuân Vỹ có than về vấn đề nhân cách của ông Lê Văn Đồng với tư cách một đảng viên.
Xin ghi lại, theo ông Vỹ, ông Đồng Vừa là người thân tín có uy tín trong đảng Cần Lao của chế độ cũ, sau này lại trở thành thân tín của ông Thiệu trong nhóm người thành lập đảng dân chủ của ông Nguyễn Văn Thiệu.
Và nếu ông Đồng quả thực có tiết lộ cho Thông Luận biết lý do bị thất sủng hoàn toàn không đúng sự thật thì theo ông Vỹ đây là điều đáng buồn. Ông Huỳnh Văn Lang cũng tỏ ra bực bội về vấn đề này.
Khi ra khỏi tù, ông Vỹ có hội họp anh em cũ lại thành lập nhóm Cộng Hòa Đại Chúng, chỉ có mình ông Lê Văn Đồng từ chối không tham gia. Rồi lại vừa làm cho C.I.A., sau 1975 cũng vẫn làm cho C.I.A. Ông Vỹ trách là trách cái tư cách giữa một đảng viên với một đảng viên. Còn việc cá nhân ông Lê Văn Đồng làm việc cho ông Thiệu không có gì đáng nói cả.
Có một số sự trùng hợp đến ngạc nhiên
Có một số sự kiện tuy rời rạc, có vẻ như vô thưởng vô phạt, nhưng nếu lắp ráp lại thì có thể có một nhận định tổng quan và tìm ra được yếu tố trổi bật (facteur prédominant) như một bằng chứng pháp lý trong những yếu tố đơn lẻ ấy:
Chẳng hạn, cuốn sách này (Chính Đề Việt Nam) không được in trước 1963 mà được in 1965, hai năm sau chính biến 1/11/1963.
Dĩ nhiên, mối vấn nạn nêu ra ở đây đều có giá trị lưỡng tính: có người đồng ý và có người khác phản bác.
Nhưng việc nêu ra là cần thiết.
Sao có sự trùng hợp oái ăm thế! Nó giống như trường hợp một nghi can có mặt ở phạm trường, đúng lúc, đúng địa điểm, có quan hệ quen biết, có nhân chứng, có sụ ghi nhận dấu vết tay, dấu vết để lại như tàn thuốc lá.
Chỉ có một điều, ông không bao giờ là tác giả vụ giết người. Vì ông không biết bắn súng hay ngón tay ông cụt mất ba ngón chính, hay ông chỉ biết xử dụng tay trái..hay mắt ông bị chứng quáng gà, v.v…
Sau cái chết của ông Diệm và ông Nhu thì có sự ra đời của cuốn sách mang bút hiệu Tùng Phong mà nhiều người cho là của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Nếu sách do ông Đồng là tác giả thì việc in trước in sau 1963 không thành vấn đề.
In xong, mặc dầu không bán được, nhưng không một đồng chí thân cận nào của tác giả đã nhận được cuốn sách. Ngay như ông Lê Châu Lộc đã được chính tác giả tặng một tập Chính Đề Việt Nam cũng vẫn chỉ là tập tài liệu đánh máy vào năm 1971. Phải cắt nghĩa sao cho thỏa mãn sự thắc mắc của lương tri bình thường?
Người ta thắc mắc không hiểu lý do gì tác giả đã không tặng sách cho các đồng chí thân cận của mình. Trong khi đó lại tặng một vị dân biểu trẻ, ở vị thế ngoài đảng, một thế hệ lớp người không dính dấp gì với nền Đệ Nhất Cộng hòa.
Ông Tùng Phong đã có nhã ý đặc biệt gửi tặng một cuốn sách Chính Đề Việt Nam cho ông Mặc Giao, qua bưu điện, một người chỉ có liên hệ sơ giao. Vì thế, đối với ông Mặc Giao thì cái tên Tùng Phong cũng giống như tên một ông X, ông Y xa lạ nào đó. Ông Tùng Phong như thể không là ai cả hay là ai cũng được.
Nếu tặng các đồng chí thân cận thì có khác nào tự tố giác chính mình chăng? Tặng các đồng chí cuốn sách gián tiếp nhìn nhận mình là tác giả, phải chăng điều mà ông Lê Văn Đồng không thể làm?
Việc in lại cuốn sách này năm 1988 cũng có điều để suy nghĩ. Cuốn sách với nội dung viết cách đó 23 năm (1965), nay (1988) xem lại thể nào cũng có sai sót, cũng nhiều điều bất cập và nhất là không thích hợp trong môi trường xã hội, chính trị đã có nhiều đổi thay. Một tác giả cầm bút có trách nhiệm tất nghĩ tới chuyện duyệt lại và tu chính lại cuốn sách, cập nhật hóa những dữ kiện mới. Ông Đồng đã không làm gì cả, để “nguyên con” cuốn sách như cũ.
Rồi nữa, trước và nhất là sau 1965 cho đến 1992, tác giả không hề viết bất cứ một bài viết nào khác ngoài cuốn sách đã in 27 năm trước. Điều đó thật khó hiểu theo suy luận của một người đã có thói quen cầm bút.
Không ai có thể phủ nhận cái quyền của ông Lê Văn Đồng (là tại sao ông) từ trước đến sau chỉ viết một cuốn sách. Nhưng người đọc ông vẫn có quyền đặt những câu hỏi nghi vấn ý nghĩa như thế?
Riêng các vị được phỏng vấn thì có sự trả lời đồng loạt là ông Lê Văn Đồng là người không có khả năng viết. Sự xác nhận này của những người từng hoạt động chung với ông Đồng có thể là một sự bảo kê đáng tin cậy.
Không có khả năng viết thì không viết. Đơn giản chỉ có vậy thôi. Nếu đã viết được thì nào chỉ có một cuốn sách hay một bài báo?
Người ta tự hỏi viết phải chăng là một cái nghiệp? Bỏ nhân tình thì được, nhưng mấy ai đã bỏ được cái nghiệp viết khi đã dính dáng vào nó? Ai đã có thể “cai nghiện” được ngòi bút ngay cả trong tình huống bị cấm đoán như buộc chung sống trong chế độ cộng sản?
Trong khi đó, ông Ngô Đình Nhu, chỉ tính từ 1950 đến 1963, một thời gian được coi là ngắn so với tác giả đã viết không biết bao nhiêu là bài tham luận chính trị văn hóa.
Trong Souverains et notabilités d’Indochine, Ha Noi, Ideo, 1943 đã có ghi tiểu sử ông Ngô Đình Nhu và ông là một trong số những người trí thức thuộc thành phần tinh hoa được đào tạo tại Pháp vào thập niên 1940.
Việc trước tác của ông Ngô Đình Nhu như minh chứng thêm cho việc ông là người của sách vở, nghiên cứu. Tựu chung tập trung vào tuyển tập: Con đường Chính Nghĩa: Độc lập, Dân Chủ. Bộ sách gồm 9 cuốn ghi lại tất cả những bài diễn văn, hiệu triệu do ông Ngô Đình Nhu soạn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm đọc. Sở Báo Chí Phủ Tổng Thống có sưu tập đủ và Bộ Thông Tin Và Thanh Niên đã xuất bản.
Ngoài ra, ông Nhu còn viết một số bài tham luận như:
• Sự góp sức của người công giáo vào hòa bình ở Việt Nam, diễn văn đọc tại trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt ngày 18-4-1952, in lại trong tạp chí Xã Hội tháng 2-1953.
• Lược đồ một cuộc cải tổ cơ cấu xã hội, tạp chí Xã Hội, Sài Gòn 1952.
• Trình bày một quan niệm về Văn Hóa, Gió Nam, Sài Gòn.
• Diễn Văn đọc tại suối Lồ Ồ, Gió Nam, tháng 5-1963.
• Các bài diễn văn và huấn thị của ông Ngô Đình Nhu trong các dịp 17 tháng tư, 1963, 5 tháng 8, 1963, 22 tháng 6, 1963.
• Triết lý truyền thống Á Đông.
• Sứ mạng Thánh thiêng. Có thủ bút của ông Nhu viết bằng tiếng Pháp.
• Interview granted by Mr Ngo Dinh Nhu, political counselor at the presidency to a group of newsmen, 5 tháng 9, 1963.
• Bài Hội kiến với ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị Tổng Thống Phủ, từ trang 51-62 (trả lời phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc trong tài liệu: Vi phạm nhân quyền tại miền Nam Việt Nam, dịch giả Võ Đình Cường).
Dĩ nhiên, còn nhiều bài viết khác chưa được thu thập đầy đủ. Sự trích dẫn trên đây cho thấy sức viết của hai người quá chênh lệch.
(Còn tiếp)
Ai là tác giả cuốn “Chính Đề Việt Nam”? (Kết)
Nguyễn Văn Lục17-03-2010
(http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7237)
Chấm dứt bài phỏng vấn ở đây với sự nuối tiếc và một tâm trạng buồn, nhưng tôi hy vọng người đọc bài này có đủ thông tin để biết sự thật và công bằng để thấy rằng ai là tác giả tập tài liệu “Chính Đề Việt Nam”.
Tìm câu trả lời ai là tác giả cuốn sách: Chính Đề Việt Nam
Ông Nguyễn Hữu Phương (NHP) ‒ là Người duy nhất được bà Lê Văn Đồng trao tập Chính Đề để ông được quyền in, xuất bản và phát hành. Nhưng ông Phương khi có tập Chính Đề Việt Nam đã đưa cho ông Trương Phú Thứ để sửa lại văn từ với tư cách một người “duyệt văn” và có tên trong việc in cuốn sách. Theo ông Đỗ Như Điện, thì công việc chính là nhờ (ông Trương Phú Thứ) đánh máy, chứ không phải nhờ sửa chữa ấn bản hay cho thêm tên ông Ngô Đình Nhu và tên người hiệu đính vào tập sách.
Biết được những tin tức này (sửa văn, đề tên Ngô Đình Nhu và tên người “duyệt văn”), bà Lê Văn Đồng đã yêu cầu ông Nguyễn Hữu Phương trả lại bản thảo và chấm dứt giao kèo in ấn.
[NVL]: Thưa ông, trong trường hợp nào ông quen biết ông bà Đồng và để được bà Đồng tin cậy giao cho xuất bản cuốn sách?
[NHP]: Đấy chỉ là cái duyên mà tôi quen biết hai ông bà Đồng ở Louisiana.
[NVL]: Ông Lê Văn Đồng đã tiết lộ những gì liên quan đến cuốn sách kể trên?
[NHP]: Theo ông Đồng kể cho tôi nghe thì ông thuộc nhóm các ông Nguyễn Tôn Hoàn và trong một lần được nghe ông Ngô Đình Nhu thuyết trình và kể từ đó, ông Lê Văn Đồng đi sát cánh với ông Ngô Đình Nhu từ 1953-1955.
[NVL]: Ông Lê Văn Đồng đã nói gì liên quan đến tác phẩm “Chính Đề Việt Nam”?
[NHP]: Ông Đồng cho biết là ông được ông Ngô Đình Nhu tín nhiệm nên đã đưa tài liệu viết tay bằng tiếng Pháp bản Chính Đề Việt Nam để ông Đồng dịch ra tiếng Việt.
[NVL]: Thưa, như vậy là ông Đồng xác nhận bản viết tay bằng tiếng Pháp là do ông Ngô Đình Nhu soạn, còn ông Đồng là người dịch ra tiếng Việt. Ông còn nói chính bà Đồng là người đánh máy bản dịch ra tiếng Việt này?
[NHP]: Quả đúng như những gì ông Đồng đã nói với tôi.
Ông Cao Xuân Vỹ ‒ 92 tuổi, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh niên, có thể là một trong những người phụ tá gần gũi cả với ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu từ 1954 cho đến giờ phút chót.
[NVL]: Thưa ông, xin ông cho biết về nguồn gốc tài liệu “Chính Đề Việt Nam”?
[CXV]: Anh biết là ông Ngô Đình Nhu là người đã từng đi thuyết giảng, viết nhiều bài báo từ năm 1947- 1950. Nhưng từ khoảng năm 1958, ông Nhu thường viết rải rác tập tài liệu từng chapitre một, rồi có khi ông cũng hỏi ý kiến tôi về Hồ Chí Minh, về Cộng Sản. Năm 1960, ông có đưa tôi một tập tài liệu bằng tiếng Pháp và dặn đưa người dịch ra tiếng Việt để phổ biến nội bộ trong giới cán bộ cao cấp.
[NVL]: Tài liệu bên ngoài có để tên ông Nhu hay tên hiệu Tùng Phong, thưa ông?
[CXV]: Không, tài liệu đâu có để tên ông Nhu. Cũng không để tên bút hiệu nào cả. Sau đó, tôi có giao tập tài liệu đó cho ông Lê Văn Đồng và nhờ ông này dịch. Rồi tiếp đến xảy ra vụ 1963. Tập tài liệu chưa được phổ biến bị bỏ xó. Nhưng đến năm 1964, tập sách được xuất bản và in ở nhà in của ông Trương Vĩnh Lễ.
[NVL]: Sau này, tập tài liệu được in ra để tên là Tùng Phong, chắc là do ông Lê Văn Đồng đặt ra, có phải vậy không, thưa ông?
[CXV]: Đúng vậy, tên hiệu ấy do ông Lê Văn Đồng đặt ra.
[NVL]: Như vậy cụ Đồng có công dịch, biên tập, rồi để bút hiệu và sau đó in vào năm 1964?
[CXV]: Đúng vậy.
[NVL]: Ông không có thắc mắc gì về cái bút hiệu ấy?
[CXV]: Không, có gì để thắc mắc. Tài liệu do ông Nhu viết, bây giờ muốn in lại thì đề tên gì chả được, miễn là anh em biết với nhau là đủ.
[NVL]: Thưa ông, chính ông đã đưa tập tài liệu bằng tiếng Pháp của ông Nhu cho ông Lê Văn Đồng?
[CXV]: Chắc chắn như thế. Sau này, tôi còn nhớ là có vài Chapitres, không biết tại sao ông Lê Văn Đồng đã bỏ sót.
[NVL]: Thưa ông, trong lời nhà xuất bản Hùng Vương (1988) có nói rõ, “tài liệu nghiên cứu do một nhóm chiến sĩ trong bộ phận nghiên cứu chính trị của Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam soạn thảo để kính tặng cách chiến sĩ vô danh của Cộng Đồng Quốc Gia Việt Nam.” Như vậy, tập tài liệu có thể không phải do ông Nhu mà cũng không phải do ông Đồng?
[CXV]: Đồng ý trên danh nghĩa là có ghi như thế, nhưng các cán bộ nòng cốt chỉ có thể góp ý trong lúc in ấn. Chẳng hạn như tôi có viết gì đâu. Để tên vậy thôi. Nhưng toàn bộ văn bản vẫn là chính sách, đường lối của ông Nhu. Không ai có thể đưa ra chính sách, đường lối ngoài ông Nhu được.
[NVL]: Thưa ông, trong lần in năm 1964, có bao giờ ông nghe ông Lê Văn Đồng tự nhận mình là tác giả cuốn “Chính Đề Việt Nam”?
[CXV]: Không bao giờ có chuyện đó. Làm sao ông Đồng mặt mũi nào dám nhận mình là tác giả. Tất cả mọi anh em đều biết là tài liệu của ông Nhu viết. Tôi nghĩ ông Đồng không không có ý muốn nhận mình là tác giả đâu?
[NVL]: Thưa ông, nhưng lần in năm 1988 ở Mỹ, ông Lê Văn Đồng có nhận mình là tác giả không?
[CXV]: Cũng không nữa. Chúng tôi có họp nhau lại bàn bạc trước khi quyết định cho in. Dù để ngoài bìa là Tùng Phong và do một số anh em soạn thảo cũng vẫn là câu chuyện hình thức, câu chuyện đứng ra xuất bản. Sau này, khi được nghe tin ông Lê Văn Đồng nhận là tác giả thì ông Đỗ La Lam biết, khó chịu nhưng cũng không nói gì. Nếu ông Lê Văn Đồng là người tự nhận là người viết thì nay đã có lần tôi đề nghị bà Đồng đưa bản viết tay bằng tiếng Pháp cho mọi người coi để câu chuyện được minh bạch. Nhưng bà ấy không chịu đưa ra. Chúng tôi biết làm thế nào?
[NVL]: Thưa ông, có phải ông vừa xác nhận, như một nhân chứng, là tài liệu Chính Đề Việt Nam bằng tiếng Pháp đã được ông Nhu giao cho ông và ông đưa cho ông Lê Văn Đồng dịch ra tiếng Việt?
[CXV]: Đúng vậy. Tôi già rồi, lẩm cẩm nhiều rồi, nhưng điều này thì không thể lẫn được. Và tôi mong các anh làm sao phổ biến rộng rãi tài liệu đến thế hệ thanh niên trẻ, nhất là những người trong nước để họ có dịp được đọc tài liệu này.
Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh (NVM) ‒ Phụ trách Văn phòng Cố vấn Chỉ đạo miền Trung (làm việc với ông Ngô Đình Cẩn), tác giả cuốn sách Dòng họ Ngô Đình, Giấc Mơ Chưa Đạt.
[NVL]: Thưa ông, ông có dịp được đọc bản bằng tiếng Pháp của tập tài liệu Chính Đề Việt Nam hồi ở Việt Nam không?
[NVM]: Thú thực là không vì tôi làm việc bên cạnh ông Ngô Đình Cẩn ở Huế nên chưa có dịp được đọc tài liệu này. Nhưng tôi giả dụ rằng ông Lê Văn Đồng chính là người viết tập tài liệu này thì ông phải được chính ông Nhu chỉ định và nếu có viết là viết theo sự chỉ đạo trực tiếp của ông Nhu. Chẳng hạn, ông Nhu đưa ra đề cương, đường hướng và ông Lê Văn Đồng khai triển những ý tưởng chỉ đạo của ông Nhu. Đó là lối làm việc quen thuộc mà tôi biết.
[NVL]: Nhưng ông Đồng vẫn có thể viết một cuốn sách như thế chứ?
[NVM]: Dĩ nhiên là không ai cấm ông Đồng viết sách, nhưng ông sẽ viết sách nghiên cứu chứ không viết một tập tài liệu học tập. Tôi giả dụ ông Đỗ La Lam được phân công giữ hồ sơ, sổ sách, tài liệu. Ông Cao Xuân Vỹ lo phần sinh hoạt, tài chánh. Ông Bùi Kiến Thành lo phần tổ chức. Ông Trần Kim Tuyến lo tuyên huấn, ông Phạm Văn Nhu lo về Hành Chánh.
Như thế nếu cần viết tài liệu học tập, ông Ngô Đình Nhu sẽ giao cho ông Trần Kim Tuyến có trách nhiệm để viết. Nhưng nếu ông Tuyến viết thì không có lý do gì ông lại viết bằng tiếng Pháp. Ngay cả ông Lê Văn Đồng, dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt được thì hà cớ gì không viết tiếng Việt để tự mình chuốc lấy vất vả tự dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt cho mất công?
Ông Phạm Đình Khiêm lo dịch ra tiếng Việt các bài diễn văn của ông Nhu viết cho cụ Diệm. Giáo sư Tôn Thất Thiện dịch ra Anh văn cho người ngoại quốc.
[NVL]: Mặc dầu không được đọc bản tài liệu bằng tiếng Pháp, nhưng đã có lần nào, ông nghe ông Lê Văn Đồng là người nghiên cứu, viết các đề cương chính trị, các biên khảo nào khác ngoài cuốn tài liệu trên không?
[NVM]: Tôi chưa nghe ai nói vai trò của ông Lê Văn Đồng trong chức vụ viết tài liệu học tập. Nếu không có vai trò ấy, giả thiết ông là người viết tập tài liệu này không đứng vững.
[NVL]: Thưa ông, ông nghĩ sao khi thấy có sự tranh chấp về quyền ai là tác giả Chính Đề?
[NVM]: Tôi thật không vui, vì nó làm suy giảm uy tín của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhiều anh em như giáo sư Tôn Thất Thiện thì cho rằng vấn đề ai viết không quan trọng mà là giá trị tập tài liệu để lại mới là điều quan trọng.
Mặc dầu tôi không được đọc tài liệu viết tay bằng tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu, nhưng như ông biết đấy và ông có bổn phận đưa những tài liệu do ông Ngô Đình Nhu viết ra để chứng tỏ rằng không ai khác ngoài ông Nhu có khả năng, và nhất là trong vai trò lãnh đạo để đề ra cương lĩnh, đường lối chính sách của Việt Nam cho các cán bộ học tập.
[NVL]: Thưa ông, sau khi phỏng vấn nhiều nhân vật liên hệ, quả có sự thiếu sót trong việc bảo quản tài liệu, hoặc không đánh giá đúng mức tài liệu. Ngày nay đọc lại tài liệu này thì vỡ lẽ ra là nhiều việc đã được phân tích, đánh giá từ 50 năm trước. Đến bây giờ người đọc mới có đủ điều kiện để thấy được đúng mức giá trị tập tài liệu.
[NVM]: Nhận xét thật không sai. Nhưng chúng ta còn có cơ hội để chuộc lại những thiếu sót của quá khứ.
[NVL]: Có thể có dư luận nghĩ rằng các anh chỉ là những cựu đảng viên Cần Lao, nuối tiếc dĩ vãng và nay muốn phục hoạt lại Cần Lao ở Hải Ngoại?
[NVM]: Xin hỏi ngược lại, ngày nay người nào cũng trên 70 chục, chúng tôi phục hoạt lại Cần Lao để được cái gì? Vấn đề là là cái tinh thần của Đệ nhất Cộng hòa cần phải được duy trì như một phương tiện tranh đấu cho một nước Việt Nam tương lai. Đó là việc của chúng tôi và thế hệ tiếp nối như ông sau này.
Cựu Nghị sĩ Lê Châu Lộc (LCL) ‒ Nguyên là Đại úy, Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong 5 năm. Sau 1963, ông xin giải ngũ, đi học lại Quốc Gia Hành Chánh, rồi sang Anh theo học trường London School of Economics and Political Science. Cùng học tại trường này còn có các ông Tôn Thất Thiện, Phạm Kim Ngọc, Châu Kim Ngân.
[NVL]: Thưa ông, làm việc gần kề Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, chắc ông có cơ hội được đọc tập tài liệu Chính Đề Việt Nam bằng tiếng Pháp?
[LCL]: Phải nói rằng cái số của tôi luôn luôn là sống và giữ những vai trò “lớn hơn” khả năng mà tôi có. Một sĩ quan trẻ, thiếu hiểu biết và kinh nghiệm chính trị lại ở vào vị trí bên cạnh những người lãnh đạo đất nước nên nhiều điều vượt tầm tay của tôi. Và tôi cứ phải tự học dần, hiểu biết dần dần. Khi tôi sang thăm Do Thái, tôi mới hiểu được Chiến lược An ninh và Phát triển của ông Ngô Đình Nhu, nhớ lại những suy nghĩ của ông ấy có trước cả mấy chục năm.
Tôi gọi chính sách ấp chiến lược của ông Ngô Đình Nhu là một tô phở đầy đủ. Có thịt, có hành ngò, bánh phở gia vị. Có tất cả. Đó là một kiểu mẫu một xã hội hương xã tự lực, tự cường, tự bảo vệ. Dương Văn Minh lên không biết gì đã làm hỏng tất cả. Tôi gọi thời kỳ 9 năm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “thời kỳ xuyên sa mạc”, họ đơn thương độc mã đề ra đường lối chính sách mà ít ai chia sẻ được.
[NVL]: Tôi xin được nhắc lại câu hỏi của tôi ở trên.
[LCL]: Vâng, câu hỏi của anh đặt ra cho bản thân tôi rất là quan trọng. Phần tôi, tôi có trách nhiệm trước lịch sử với tư cách người làm chứng, tôi xin trả lời anh là chính tôi đã được đọc tập tài liệu ấy, vài chục trang, không phải tất cả tập tài liệu do ông Võ Văn Hải đưa cho tôi.
[NVL]: Tập tài liệu do ông Võ Văn Hải đưa cho anh là tài liệu viết tay hay đánh máy?
[LCL]: Tài liệu đánh máy bằng tiếng Pháp, nhưng cũng có vài trang viết tay của ông Nhu.
[NVL]: Tài liệu có nhan đề là gì và có đề tên tên tác giả không?
[LCL]: Không đề tên tác giả cũng không có nhan đề.
[NVL]: Rồi ông làm gì với tập tài liệu đó?
[LCL]: Tôi cũng đọc, nhưng thú thực, lúc ấy tôi không mấy chú tâm đến tập tài liệu, rồi để đâu đó không nhớ nữa.
[NVL]: Nhưng một lần nữa, anh có nhớ là nội dung tập tài liệu anh đã đọc so sánh với tập tài liệu Chính Đề Việt Nam là một?
[LCL]: Ai nói khác là không được. Tôi khẳng định như thế. Có điều như tôi đã nói với anh là với tuổi trẻ, tôi cũng đọc cho qua, hiểu biết sơ sài rồi cũng quăng tập tài liệu đâu đó. Làm sao, tôi có thể thấy được giá trị lịch sử của tập tài liệu nguyên bản tiếng Pháp của ông Ngô Đình Nhu?
Nhưng với độ lùi lịch sử vừa đủ để tôi dần hiểu biết ra rằng họ là những người lãnh đạo có tầm nhìn lịch sử với lòng yêu nước khó ai sánh bì. Tôi nhớ lại có lần bay trực thăng tháp tùng Tổng Thống, có ông Đại sứ Nolting đi cùng. Ông Diệm chỉ cho ông Đại sứ cho thấy làng mạc trong Nam, nhà cửa ở rải rác, nhà nọ có thể cách nhà kia cả cây số. Ông Diệm hỏi ông Nolting, làm thế nào tôi có thể phát triển cho dân quê? Giả dụ tôi muốn xây một bệnh xá, mở một trường tiểu học thì tôi sẽ phải chọn xây ở đâu? Đầu này hay đâu kia? Có thể ông cụ ảnh hưởng tinh thần Dinh Điền xứ của cụ Nguyễn Công Trứ, ảnh hưởng tinh thân xã thôn ngoài Bắc nên mới nảy sinh cái tư tưởng Khu Dinh Điền, Khu Trù Mật. Mật không phải chỉ sự giầu có mà mật là chỉ cái độ Densité, cái Masse, cái volume. Có nghĩa là mật độ dân chúng phải tụ tập lại thành một làng, một hương ước, có tổ chức hành chánh, có trường học, có bệnh xá, có tinh thần xã thôn vừa tự bảo vệ và tự phát triển.
[NVL]: Ông Diệm nói tiếng Anh trực tiếp với Nolting không cần qua thông dịch viên?
[LCL]: Đây là câu hỏi lần thứ nhất tôi được nghe. Ông Diệm nói được tiếng Anh với chính khách Mỹ. Cả Ông Nhu cũng vậy. Nhưng để dễ dàng hơn cho ông Diệm, nhiều khi ông Nolting nói bằng tiếng Pháp. Chỉ khi nào có lễ lạc quan trọng thì dùng thông ngôn cho đúng thủ tục ngoại giao thôi.
[NVL]: Xin phép hỏi một câu hỏi hơi ngoài lề một chút; dư luận cho ông Diệm ông Nhu là người của Thiên Chúa Giáo, ông nghĩ thế nào về điều này?
[LCL]: Tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải phá vỡ cái khung thành kiến cho rằng ông Ngô Đình Diệm là người của Thiên Chúa Giáo, chỉ biết lo cho cho người cùng đạo. Tôi ở bên cạnh ông Diệm suốt 5 năm, tôi nhận thấy Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người yêu nước, chỉ biết lo cho đại cuộc, chỉ nghĩ tới sự an ninh và no ấm cho nhân dân miền Nam.
Hãy nhìn vào tất cả công trình 9 năm mà họ đã làm. Và nhìn lại những năm còn lại, những người nối tiếp ông làm được gì? Tất cả những gì ông đã làm là cho đại cuộc. Nói khác đi là bất công lắm cho ông.
Vì thế thú thực với anh, khi có dịp đọc lại tập tài liệu, tôi như bị “giác ngộ”, vỡ lẽ ra quan điểm của ông Ngô Đình Nhu cùng lúc đánh 3 mặt trận: Phong Kiến, Cộng Sản và Chậm Tiến.
Tập tài liệu rò ràng có tính cách sư phạm, có ý hướng dẫn chỉ đạo. Ngôn ngữ trong tập sách là ngôn ngữ của một người lãnh đạo, chỉ dẫn, “chúng ta phải thế này”, “phải thế kia”. Nó không phải tập tài liệu nghiên cứu.
[NVL]: Thưa ông, ông đánh giá ra sao về mức độ hiểu biết của ông Lê Văn Đồng?
[LCL]: Nếu dánh giá dựa trên các tài liệu viết ra thì tôi không có hân hạnh đọc bất cứ tài liệu nào do ông Lê Văn Đồng viết. Nhưng, nếu tôi có thêm một dịp khác để chứng minh tài liệu Chính Đề Việt Nam là của ông Ngô Đình Nhu và mong rằng, nếu tin vào lời nói của tôi thì những tranh luận chung quanh vấn đề tác giả coi như giải quyết xong.
Sau này, tôi được luật sư Nguyễn Văn Huyền mời vào đứng chung trong Liên danh Bông Huệ, trong đó lại một lần nữa, tôi là người trẻ nhât bên cạnh các cụ Huyền, cụ Trần Văn Hương... Cạnh đó, ông Lê Văn Đồng đứng trong một liên danh khác. Vì thế trong nhiều năm sinh hoạt chung, tôi có nhiều dịp được trò truyện, tiếp xúc với 60 Nghị sĩ Thượng Viện.
Trong một dịp ngồi chung nói chuyện, có mặt Nghị sĩ Trần Trung Dung, ông Lê Văn Đồng có hỏi tôi có đọc tài liệu của ông cố vấn Ngô Đình Nhu viết bằng tiếng Pháp chưa?
[NVL]: Đây là một điểm quan trọng, mong ông nói rõ chi tiết.
[LCL]: Vâng, tôi có trả lời là có đọc được một phần do ông Võ Văn Hải đưa cho đọc. Sau đó, ông Đồng có đưa cho tôi tập tài liệu và khuyên tôi nên đọc lại và cần được phổ biến rộng rãi.
[NVL]: Tập tài liệu mà ông Lê Văn Đồng đưa cho anh là tài liệu viết tay, hay đánh máy bằng tiếng Pháp hay tài liệu đã dịch ra bằng tiếng Việt?
[LCL]: Tài liệu đã dịch ra tiếng Việt anh ạ.
[NVL]: Xin hỏi lại một lần nữa, khi ông Đồng đưa cho ông tập tài liệu bằng tiếng Việt thì ông nói rằng “Anh có đọc tập tài liệu này của ông cố vấn Ngô Đình Nhu chưa?”
[LCL]: Thưa đúng như vậy .
[NVL]: Thái độ của cụ Đồng lúc ấy, theo anh thấy thế nào?
[LCL]: Đó là thái độ tỏ ra rất trân trọng và quý mến ông Ngô Đình Nhu. Ông tưởng tôi chưa được đọc nên mới đưa và còn nói, cần phổ biến rộng rãi.
[NVL]: Vậy anh nghĩ gì, nếu có sự thay đổi của cụ Lê Văn Đồng sau này?
[LCL]: Tôi thật sự không hiểu được tại sao ông Lê Văn Đồng đã thay đổi thái độ và nhận là tác giả tập tài liệu Chính Đề Việt Nam vào lúc cuối đời như thế. Ông mất cái tín nghĩa đối với người lãnh đạo của mình. Và những người cùng cộng tác với ông dưới chế độ Đệ nhất Cộng hòa và họ sẽ nghĩ sao về sự bội tín này?
Một lần nữa, sau 1975, tôi đã không mang theo được tập tài liệu do ông Lê Văn Đồng đưa cho. Biết nói với anh thế nào bây giờ?
Phần phỏng vấn ông Phạm Đỉnh, đại diện cho Thông Luận, tiếng nói phản biện
[NVL]: Thưa ông, trước hết về danh tính, Phạm Đỉnh có phải là bút hiệu của Trần Xuân Kiên không?
[PĐ]: Vâng, thưa phải, Phạm Đỉnh là tôi. Nhưng thật ra bút hiệu Phạm Đỉnh là chung cho ba người trong ban biên tập của Thông Luận mà tôi là người dùng nhiều hơn cả.
[NVL]: Thưa ông, bây giờ chúng ta đi vào câu chuyện “Chính đề” của buổi nói chuyện hôm nay. Ông căn cứ vào điều gì để cho rằng tác giả Chính Đề Việt Nam là ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Thứ nhất là căn cứ vào sự xác nhận của chính ông Đồng.
[NVL]: Sự xác nhận ấy có ai khác ngoài ông?
[PĐ]: Thật ra bữa đó, tôi không có mặt, chỉ do anh em nói lại. Đặc biệt do anh Nguyễn Gia Kiểng xác nhận.
[NVL]: Ngoài sự xác nhận, ông Đồng có còn đưa ra một “bằng cớ vật chất” gì khả dĩ xác nhận tính cách chủ quyền tác phẩm Chính Đề Việt Nam. Chẳng hạn một tờ giấy thủ bút những trang tài liệu?
[PĐ]: Như ông biết đấy, cách làm việc của tôi giống như khi tôi nghiên cứu ai là tác giả “Chinh Phụ Ngâm Khúc”, tôi dựa vào văn bản để tìm tác giả bởi vì trong một số điều kiện khách quan khó có cơ hội tìm vết tích quá khứ bằng vật chứng.
[NVL]: Dựa vào văn bản, anh nhận ra điều gì để chứng tỏ thẩm quyền tinh thần này là sản phẩm trí tuệ của ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Sau này, khi được tiếp xúc với ông Đồng, tôi nhận thấy ông là người rất phóng khoáng, rất tự do và dân chủ, không gò bó câu nệ. Điều đó ăn khớp với cái tinh thần của nội dung trong tập “Chính Đề Việt Nam”.
[NVL]: Xin anh nói rõ thêm.
[PĐ]: Chẳng hạn chương bàn về ngôn ngữ, về phong cách trong những luận điểm, tác giả so sánh ngôn ngữ Việt và Tàu và nhận ra ngôn ngữ Việt theo mẫu tự La tinh là một khí cụ sắc bén trong việc tranh đấu. Xem ra cách diễn tả của ông Nhu còn nhờ cậy vào tiếng Pháp không phù hợp với những biện luận về vai trò ngôn ngữ như ông Lê Văn Đồng đề ra. Phong cách, cách nhìn của ông Nhu qua những bài diễn văn viết cho Ông Diệm cho thấy tính cách một nhà nho đạo đức, bảo thủ rất trái ngược với phong cách viết trong Chính Đề Việt Nam, rất phóng khoáng, chắc nịch với những đề cương bạo dạn, dám nghĩ.
[NVL]: Về mặt lý luận thì như thế. Và phía bên kia cũng đã từng dựa vào văn bản của cuốn “Chính Đề Việt Nam” để biện minh rằng không ai khác ngoài ông Ngô Đình Nhu có thể viết một cách sâu sắc như thế. Xem ra bằng cớ của hai bên đều có một mẫu số chung khó biện giải. Nhưng ông nghĩ thế nào về tính áp đảo dựa vào các nhân chứng sống, một nhân sự thuộc chế độ Đệ nhất Cộng hòa?
[PĐ]: Về điểm này, tôi có cảm tưởng các cụ muốn thần thoại hóa một giai đoạn, một chế độ, một con người Ngô Đình Diệm hay Ngô Đình Nhu. Đó là nếp gấp suy nghĩ của người già không thay đổi, một tâm lý hoài niệm.
[NVL]: Ông có nghĩ rằng bài phỏng vấn này được đăng lên sẽ tạo ra một bất lợi về phía ông, về tính áp đảo dựa trên những nhân vật còn sống với những lời khẳng định, chắc nịch như không tranh cãi được nữa?
[PĐ]: Có thể như anh nghĩ, nhưng tôi vẫn có những xác tín dựa trên văn bản, trên góc độ nhìn và suy luận của tôi, vì thế, tôi đã quyết định dứt khoát cho đăng lại toàn bộ tập sách chính đề. Và cũng khẳng định bảo vệ quan điểm của tôi.
[NVL]: Phần anh, nghĩ sao về con người ông Lê Văn Đồng?
[PĐ]: Sau thời gian thôi làm Đổng lý Văn Phòng Bộ Canh nông, ông đã làm công việc dịch thuật cho Tòa Đại sứ Mỹ, có thể là làm công việc dịch thuật cho CIA. Ông tiếp cận nhiều nguồn tài liệu, đọc nhiều và tỏ ra vững chãi trong những suy luận của mình. Thời gian từ 1957 tới 1964, đó là thời gian để ông chín mùi.
[NVL]: Nói về thời gian, tôi khá thắc mắc là cuốn sách tại sao “không chín mùi trước 1963” mà phải đợi sau khi ông Ngô Đình Nhu không còn nữa nó mới kịp chín? Ý nghĩa việc xuất bản năm 1964 sẽ là một đề tài tranh luận không kém quan trọng. Vả lại việc in cuốn sách đã được sự đồng thuận của các “cựu đồng chí”. Có thể, ông Trương Vĩnh Lễ còn in “chùa” nữa vì biết rằng đây là cuốn sách của cựu lãnh tụ của ông? (Ý trên đây không có trong cuộc trao đổi với ông Phạm Đỉnh.)
[PĐ]: Trong khi tiếp xúc với anh em Thông Luận, ông Đồng đã tích cực tham gia vào việc tu chính “Cơ sở Tư tưởng” của ông Nguyễn Gia Kiểng, nhìn vấn đề một cách thích ứng và trẻ trung. Đó là một con người cấp tiến thích ứng kịp thời với những tư tưởng mới.
[NVL]: Ngoài tập sách “Chính Đề Việt Nam”, ông có được biết ông Lê Văn Đồng còn viết gì khác nữa không?
[PĐ]: Thưa theo tôi biết thì không.
[NVL]: Điều đó có thể là một nguyên cớ để người khác đặt nghi vấn về khả năng viết lách của ông Đồng hay không?
[PĐ]: Tôi không nghĩ đó là lý do để nghi ngờ khả năng của một người cầm bút.
[NVL]: Theo tôi được biết, ông Ngô Đình Luyện khá thân với ông Nguyễn Gia Kiểng; trong những tiếp xúc giữa hai người, có lúc nào ông Ngô Đình Luyện đề cập đế cuốn sách “Chính Đề Việt Nam” của ông Nhu không?
[PĐ]: Không, ông Ngô Đình Luyện không hề nói tới. Đằng khác, ông còn bày tỏ thái độ bực bội với ông Nhu về cách cầm quyền của ông anh mình. Giữa ông Lê Văn Đồng, ông Ngô Đình Luyện và ông Nguyễn Gia Kiểng có một liên hệ bạn bè gần gũi và thân tình.
[NVL]: Theo ông Đỗ Như Điện cho biết, cuốn sách in năm 1964, khi in ra bị cấm phát hành vì bị xếp vào loại sách chế độ cũ, điều này khác hẳn với cái version của ông Lê Văn Đồng đăng trên Thông Luận?
[PĐ]: Vào thời điểm sau 1964, tôi không thấy bất cứ một lệnh cấm nào đối với sách vở in trước 1964. Sách vở cũ vẫn được bày bán tự do trong các tiệm sách và trên hè phố.
[NVL]: Việc Thông Luận cho rằng ông Lê Văn Đồng bị thôi chức vụ Đổng lý Bộ Canh nông, vì bất đồng chính kiến với ông Nhu, một bên dân chủ, một bên độc tài. Nhưng theo ông Cao Xuân Vỹ thì việc ông Diệm cho thôi chức Đổng lý vì ông Đồng có liên quan đến vấn đề cắt gỗ của mấy ông hạm tham nhũng.
[PĐ]: Việc này tôi không nắm được ngoài thẩm quyền hiểu biết của tôi.
[NVL]: Còn một việc nữa; Thông Luận giới thiệu ông Đồng đã đậu Tiến sĩ Toán học, tại Louisiana và sau đó làm Giáo sư Đại học. Trong 47 tiến sĩ Toán (1970-1979) và 29 tiến sĩ Toán (1980-1989) tốt nghiệp tại Đại học Louisiana State University không có tên Lê Văn Đồng (Nguồn: https://www.math.lsu.edu/dept/grad/phdgrads#d1970s). Hơn nữa tại Louisiana có nhiều Đại học, University of Louisiana at Lafayette, Louisiana State University, Southeastern Louisiana University, Louisiana Tech University (không có ban Toán bậc Tiến sĩ). Ông nghĩ sao về việc này?
[PĐ]: Tôi chỉ ghi lại theo lời ông Đồng và chưa có dịp kiểm chứng lại. Việc này tuy nhỏ, nhưng có thể gây ảnh hưởng tới cái độ khả tín của ông Đồng.
[NVL]: Anh nghĩ sao về những bài viết gần đây liên quan đến cuốn “Chính Đề Việt Nam”?
[PĐ]: Nói chung ít có mức độ khả tín. Có nhiều bài viết như của ông Trương Phú Thứ nổ quá, chê bai tác giả đến độ ông ấy phải “nhuận sắc” lại thì quá đáng. Thế còn anh nghĩ sao về những bài viết của ông Tôn Thất Thiện?
[NVL]: Anh hỏi ngược lại tôi thì cũng xin trả lời, ông ấy viết hai ba bài thì có chỗ sai đã xin cải chính. Nhưng không hiểu sự quen thuộc với văn phong của ông Ngô Đình Nhu đến như thế nào, (khi so) giữa một văn bản tiếng Pháp trong các bài diễn văn cho ông Diệm đọc và (với) văn phong trong bản tiếng Việt của “Chính Đề Việt Nam”. Có điều gì để ông Thiện nắm bắt được ngay rằng đó là hai văn bản của cùng một tác giả?
Anh có điều gì muốn nói với độc giả đọc bài này?
[PĐ]: Theo tôi được biết thì bà quả phụ Lê Văn Đồng sẽ đưa vụ in ấn năm 2009 ra kiện trước tòa án. Tôi cũng không hiểu bà dựa trên yếu tố pháp lý nào để đi kiện.
[NVL]: Và theo tôi nghĩ, không biết ông Ngô Đình Nhu có cần những vinh danh cuối mùa trong lúc này hay không? Và có thể cả trong trường hợp ông Lê Văn Đồng nữa.
Chấm dứt bài phỏng vấn ở đây với sự nuối tiếc và một tâm trạng buồn, nhưng tôi hy vọng người đọc bài này có đủ thông tin để biết sự thật và công bằng để thấy rằng ai ‒ giữa hai người đã không còn nữa ở trên cõi đời ‒ là tác giả tập tài liệu “Chính Đề Việt Nam.”
© DCVOnline
Phụ Lục by PG
![]() |
| Ông Ngô Đình Nhu, 1957 |
![]() |
| Ông Cao Xuân Vỹ Sinh 1920 Thất lộc tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ lúc 4 giờ sáng, ngày 11 tháng 10, 2013, thọ 93 tuổi. |
![]() |
| Mr. Lê Châu Lộc [1933-2016] |
![]() |
| Mr. Đỗ Như Điện, 2015 |
![]() |
| Bìa trước số đầu tiên |
![]() |
| Bìa sau số đầu tiên |













No comments:
Post a Comment